giáo sư trần đình sử
Mách mẹ nơi mua sữa non Onefa Mama giá tốt nhất hôm nay: Mama được nhiều mẹ sửa khuyên nhau mua trong thời gian
Chủ tịch Hội đồng thẩm định sách giáo khoa tiếng Việt lớp 1 cho biết ông đã nhận được văn bản đề nghị của Bộ GD-ĐT và sẽ tiến hành rà soát. Trao đổi với PV Thanh Niên sáng nay, 12.10, GS Trần Đình Sử, Chủ tịch Hội đồng thẩm định sách giáo khoa tiếng Việt
Phó Giáo sư - Tiến sĩ Trần Đình Ngạn Nội khoa - Nội tổng quát Bệnh viện Quân y 103 Hồ sơ chuyên gia ♦ Chuyên khoa: Khám bệnh, chữa bệnh chuyên khoa Nội. - Tốt nghiệp Đại học Y Hà Nội chuyên ngành Đa khoa, tốt nghiệp chuyện khoa II Nội khoa. - Chủ nhiệm khoa Tim - Thận - Khớp Bệnh viện 103 - Nguyên phó Giám đốc Bệnh viện Quân y 103
Đó là cách mà giáo sư Trần Huy Liệu, người từ năm 1960 là Viện trưởng Viện Sử học, đã áp dụng tư khi còn là trưởng ban Ban Sử Địa Văn, được Trung ương Đảng thành lập từ năm 1953 (năm 1954 đổi thành Ban Văn Sử Địa) - cơ sở nền tảng để thành lập Viện Sử học.
356 ứng viên được hội đồng giáo sư ngành, liên ngành đề nghị xét công nhận đạt tiêu chuẩn chức danh giáo sư, phó giáo sư năm 2022 Nguyễn Đình Sơn . 08/07/1981 . Cơ khí . PGS . Trường Đại học Bách khoa, Đại học Đà Nẵng . HỘI ĐỒNG GIÁO SƯ LIÊN NGÀNH SỬ HỌC
Khi bộ sách giáo khoa lớp 1 trở thành chủ đề bàn tán nhiều ngày qua, dư luận chú ý tới Hội đồng thẩm định, trong đó Giáo sư Trần Đình Sử là Chủ tịch Hội đồng, Và thật bất ngờ khi vào tài khoản FB mang tên ông, mới ngã ngửa ra là ông Sử lại có nhiều vấn đề phức tạp về tư tưởng, thậm chí có thể xếp vào hàng "tự diễn biến, tự chuyển hóa"
Ơi Vay Lừa Đảo. Lê Lưu Oanh GS. Trần Đình Sử không chỉ là nhà Thi pháp học như mọi người thường ghi nhận mà ông thực sự là một nhà Lý luận văn học. Người ta nghĩ ông là nhà Thi pháp học cũng bởi vì những công trình về thi pháp học của ông quá nổi tiếng. Ông đã kiên cường nỗ lực nghiên cứu trên các phương diện thi pháp tác giả, thi pháp giai đoạn văn học, thi pháp tác phẩm và hệ thống các khái niệm và phương thức nghiên cứu thi pháp, để ra đời bộ tứ đồ sộ Thi pháp thơ Tố Hữu 1987, Mấy vấn đề thi pháp văn học trung đại Việt Nam 1999, Thi pháp Truyện Kiều 2002 và Dẫn luận Thi pháp học 1998, 2017, in đi in lại nhiều lần. Thi pháp học, thực sự là một con đường mới, một hướng đi mới đã gây nên ở Việt Nam một cơn sốt nghiên cứu văn học theo hướng thi pháp học, rầm rộ suốt thập kỷ 90 của thế kỷ XX. Nhưng bên cạnh đó, còn một hướng đi âm thầm và bền bỉ kéo dài gần 60 năm, tính từ khi ông bắt đầu giảng dạy Lí luận văn học LLVH ở Đại học năm 1966, đến tận hôm nay, 2020, một con đường đi gập ghềnh, đầy khó khăn. Khó vì đã có những quan điểm chỉ đạo trong một số văn kiện, sách báo mang tính định hướng của các cơ quan chủ quản thuộc nhà nước về những vấn đề LLVH, khó vì đã có những những vấn đề LLVH rất cơ bản nhưng đã được cố định hóa, chương trình hóa, dù còn khá sơ lược theo kiểu cơ sở, đại cương trong các Giáo trình LLVH hệ Đại học. Những vấn đề LLVH ấy, dù là những nguyên lí cơ bản mang tính đại cương, nhưng cũng ít được quan tâm thay đổi và nâng cao. Và đã mấy chục năm qua, tính từ 1960, chúng ngày càng trở nên cũ kỹ, khô cứng, giáo điều, ít sức sống, ít gắn với đời sống văn học thực sự. Trong điều kiện của một người giảng dạy LLVH ở đại học gần như bắt buộc phải có quan điểm của riêng mình về tất cả các nội dung LLVH cơ sở được đề cập đến trong một bộ giáo trình LLVH hệ Đại học, trong điều kiện cần phải nỗ lực nâng cao tiếp thu các vấn đề LLVH theo những nguồn tư liệu khác nhau trên thế giới, trong điều kiện bắt buộc phải thay đổi, nâng cao tính hiện đại của các vấn đề LLVH nảy sinh trong tiến trình vận động của thực tiễn văn hóa và văn học Việt Nam, Đình Sử luôn có ý thức nêu quan điểm riêng của mình, để dày công vun đắp nên một hệ thống những vấn đề LLVH ngày càng hiện đại, mới mẻ, tiếp cận với những trào lưu LLVH mới của thế giới với những ý tưởng riêng, độc đáo. Nếu tính trong lịch sử LLVH VN, điểm mặt người chuyên làm LLVH tức là những nhà nghiên cứu chuyên sâu về LLVH, viết sách LLVH, giới thiệu các khuynh hướng LLVH ở nước ngoài và vận dụng các quan điểm mang tính lí luận để nghiên cứu các hiện tượng văn học khoảng 40 năm nay, từ 1980 – 2020, có thể kể đến tên một số nhà nghiên cứu như Nguyễn Văn Hạnh, Hoàng Trinh, Hà Minh Đức, Hoàng Ngọc Hiến, Phương Lựu, Trần Đình Sử, La Khắc Hòa, Lê Ngọc Trà, Huỳnh Như Phương, Trương Đăng Dung, Nguyễn Văn Dân, Trịnh Bá Đĩnh… Nhưng là người đã đặt ra các vấn đề LLVH, có tư duy lí luận và có những kiến giải tạo nên những ảnh hưởng sâu rộng trong nền LLVH nước nhà, phải kể đến Trần Đình Sử. Ông thực sự là một nhà LLVH khi luôn cố gắng giải quyết các vấn đề LLVH, xây dựng các khái niệm LLVH, có ý thức về tư duy lí luận và lập luận và ứng dụng lí luận. Điều này thể hiện trong các bộ giáo trình LLVH ông tham gia và chủ biên Giáo trình LLVH, tập 1. 2, 1986-1987, 2005; Giáo trình LLVH hệ Cao đẳng, tập 1. 2, 2003-2005, trong các công trình chuyên sâu về LLVH như Những thế giới nghệ thuật thơ, 1995 và Tự sự học, chủ biên, 2017, Lí luận và phê bình văn học, 1996; Văn học và thời gian, 2001, Trên đường biên của lí luận văn học, 2014, Văn học so sánh, 2020 và những công trình về Thi pháp học. Là người gắn bó với việc giảng dạy ĐH, SĐH và hướng dẫn luận án TS, gần 60 năm qua, ông đã phải bàn đến khá nhiều vấn đề của nền LLVH nước nhà, qua nhiều giai đoạn, từ giai đoạn tiếp thu trực tiếp LLVH của Liên xô những năm 1960 – 1980, đến giai đoạn có những tiếp thu nguồn LLVH nước ngoài một cách sâu rộng sau thời kỳ Đổi mới từ 1986 đến nay, khi nhận thấy nội dung của hệ thống LLVH VN còn nhiều chỗ đơn giản, chưa hợp lý, cần đối thoại và phát triển. Đó là các vấn đề như phản ánh luận, ý thức hệ xã hội, văn học và hiện thực, đặc trưng văn học, hình tượng nghệ thuật, tư duy nghệ thuật, tiếp nhận văn học, văn bản và tác phẩm, ngôn ngữ văn học, phương pháp sáng tác, bản sắc dân tộc của văn học, kiểu sáng tác văn học và tiến trình vận động của văn học, lịch sử sáng tạo một tác phẩm văn học, diễn ngôn văn học…Đây là những vấn đề mà ông đã nhận thấy những hạn chế của sự gợi ý từ lí thuyết Xô viết và luôn muốn vượt ra khỏi, diễn giải lại, trình bày lại một số nhân tố trong lí thuyết truyền thống và diễn giải theo tinh thần tri thức mới. Đầu tiên, cần phải nhắc đến các bộ giáo trình LLVH cho hệ ĐH. Những người thực sự bắt buộc phải quan tâm, phải có trách nhiệm viết nên những bộ giáo trình này không nhiều. Nếu những năm 1960-1970, đội ngũ này còn khá đông, có thể kể đến như Nguyễn Lương Ngọc, Nguyễn Văn Hạnh, Trần Văn Bính, Hà Minh Đức, Nguyễn Xuân Nam, Thành Thế Thái Bình, Lê Bá Hán, Phương Lựu, thì đến những năm 1980 – 1990, có Phương Lựu, Nguyễn Xuân Nam, Thành Thế Thái Bình, Trần Đình Sử, Lê Ngọc Trà, La Khắc Hòa, sang đến những năm 2000, chủ chốt chỉ còn Phương Lựu và Trần Đình Sử. Tuy nhiên, Trần Đình Sử chỉ là chủ biên Tập 2 của giáo trình LLVH 1987, 2005 và chủ biên của giáo trình LLVH hệ Cao đẳng 2003-2005. Trong những phần đó, nỗ lực của ông để đổi mới giáo trình LLVH cũng là những đóng góp đáng ghi nhận. Có lúc, ông tâm sự với chúng tôi, về giáo trình LLVH, người Việt Nam mình thường có tư tưởng tự ti, không nghĩ người VN làm được LLVH, cho nên thường chỉ dừng lại ở sự sao chép nói chung. Có thể nói, các giáo trình LLVH, nếu không có tư tưởng mới thì sẽ không có LLVH mới. Còn các sách LLVH của ta, thực sự ít có gì mới mẻ, bởi làm LLVH rất khó. Người giới thiệu lí thuyết thì nhiều, nhưng để vận dụng vào nghiên cứu một hiện tượng văn học Việt Nam thì gần như không có. Người Việt vốn không có tư duy lí luận, tư duy phản tư, suy nghĩ thật sâu sắc một vấn đề, không chỉ LLVH. Ở một số luận văn, luận án thạc sĩ, tiến sĩ, vấn đề LLVH đặt ra và giải quyết mới chỉ như những thử nghiệm ban đầu trong nhà trường. Còn gần như không có các bước nâng cao tiếp theo… Đúng vậy! Hơn nữa, những người có trách nhiệm phải viết giáo trình quá ít, kể cả hệ thống giảng viên các trường ĐH có dạy môn LLVH. Chẳng ai nghĩ rằng cần phải viết giáo trình, trừ những người được Bộ Giáo dục hoặc Bộ Đại học và Trung học chuyên nghiệp trước đây, hoặc trường ĐH mà họ là giảng viên, trao trách nhiệm, bắt buộc họ phải viết. Thực sự, hệ thống giáo trình này cũng không cần quá nhiều, nhưng nếu mỗi trường ĐH có chuyên ngành Văn có một bộ, độc đáo, khác hẳn nhau thì sẽ có những cơ hội mở ra nhiều hướng đi của LLVH VN. Tuy nhiên, vì là giáo trình, nên có những nội dung phụ thuộc vào chương trình mang tính pháp lệnh, nên cũng có cái khó nhất định đối với người viết sách mang tính LLVH kiểu nâng cao, ai có nhu cầu và khả năng thì quan tâm. Thực sự loại sách này có rất ít. Thuần túy lí luận chay thì ít ai cần. Còn tự đưa ra lí thuyết và ứng dụng vào các hiện tượng văn học, vào phê bình văn học đã có mấy ai. Nhưng trong tình thế ấy, Trần Đình Sử vẫn có những đóng góp riêng khi ông được tham gia viết giáo trình LLVH nói riêng và chủ động viết sách LL nói là người đưa ra vấn đề LLVH, giải quyết vấn đề và áp dụng vào một số hiện tượng văn học VN với khá nhiều ý tưởng mới lạ. Ngay từ lúc mới vào nghề, từ 1966, Trần Đình Sử đã luôn trăn trở với các vấn đề LLVH được đặt ra từ những năm 1950 với các bộ sách Nguyên lí, Cơ sở LLVH chủ yếu tiếp thu từ nền LLVH Xô viết của Abramovich, Timofeev. Từ thời đó, ông cùng một số giáo viên khác đã cảm nhận được sự sơ lược và và thiếu sức thuyết phục của nhiều nguyên lý văn học trong các giáo trình Xô viết và Việt Nam thời đó, nhưng hoàn cảnh lại chưa cho phép bất cứ thay đổi nào. Ông cứ một mình, cầm mẫn học hỏi, suy nghĩ, cần mẫn viết, cố gắng diễn đạt cho hết những suy nghĩ, biện luận, minh chứng của thế, ông đã viết một tiểu luận về Đặc trưng văn học, dày đến 100 trang đánh máy, trong những năm tháng chiến tranh chống Mỹ ác liệt nhất 1967 – 1972, trong hoàn cảnh ở nơi sơ tán của Đại học Sư phạm Vinh, đường sá xa xôi, chả có tư liệu tham khảo gì mấy. Vậy mà đến hôm nay, khi đọc lại những phần này, chúng tôi không khỏi kinh ngạc khi nhận thấy, với tuổi đời còn rất trẻ, chưa đến 30 tuổi, mà ông đã có những suy nghĩ đi trước thời đại với những suy ngẫm sâu sắc. Để nói lý do của việc viết tiểu luận này, gần đây, 2019, chính ông đã bộc bạch “Đây là bài viết của tôi năm 1972 tại khoa Văn Đại học Sư phạm Vinh, khi còn sơ tán ở Lăng Thành, Yên Thành Nghệ An. Đặc trưng văn học là khái niệm trung tâm của lí luận văn học. Bất mãn với lí thuyết thịnh hành đương thời, tôi tìm cách hiểu khác, vận dụng kí hiệu học, quan hệ chủ thể và khách thể, mĩ học tiếp nhận, đột phá nhận thức luận. Tôi đã nhìn đặc trưng văn học từ quan hệ chủ thể khách thể, xuyên suốt từ nhận thức đến thể hiện trong chất liệu, tạo ra một hệ thống thuật ngữ của riêng mình, phê phán triệt để quan niệm hình tượng thịnh hành lúc ấy trong các giáo trình. Với niềm say mê trẻ trung tôi không chỉ phê phán giáo trình lí luận văn học Việt Nam đương thời, mà còn phê phán cả lập luận giáo điều của Borev, Timofeev, đồng thời đưa ra lí thuyết của mình. Bây giờ nhìn lại không phải không có nhiều chỗ độc đáo còn đọc được. Tất nhiên bài viết không tránh khỏi những non nớt, ấu trĩ của một thời”Phần nói đầu cho tiểu luận Đặc trưng văn học – bản đánh máy. Trong tiểu luận này, ông đã đề cập đến các vấn đề cụ thể của hình tượng văn học với những góc độ khác, mới mẻ hơn. Ông say sưalập luận, minh giải cho ý tưởng của mình để thấy được hình tượng nghệ thuật không chỉ là số cộng của những sự thống nhất đơn giản như giáo trình hiện hành đang trình bày, mà có rất nhiều đặc tính quan trọng khác thể nghiệm và hư cấu, cái thấy được, cái không thấy được, tính sinh động nghệ thuật của hình tượng, sự thống nhất giữa những hình thức nghệ thuật cảm tính và ý thức của nghệ sĩ….Ông dựa vào một luận đề hoàn toàn mới, tức dựa vào lí thuyết hai hệ thống kí hiệu của văn học. Một là kí hiệu của giaotiếp bằng ngôn ngữ, hai là giao tiếp qua tạo hình phi ngôn ngữ như múa, âm nhạc, hội họa, nghĩa là qua tạo hình mà nhận ra thông tin. Xưa nay người ta nghiên cứu văn học thường dựa vào hai lý do sau ngôn ngữ tạo hình tức hình tượng, ngôn ngữ tự nhiên tức ngôn từ. Vì vậy chú ý hình tượng ở cấp độ tạo hình là con đường nghiên cứu cơ bản… Cách viết thật say sưa, sôi nổi, ý tưởng dạt dào. Những ý tưởng này sau đó được ông phát triển tiếp trong bài viết về Hình tượng văn học1984, và trong phần Đặc trưng của tư duy nghệ thuật và cấu trúc chỉnh thể của hình tượng nghệ thuật của giáo trình LLVH 1987, và vẫn được suy ngẫm trong bài viết Về phạm trù hình tượng văn học 2003 in trong Lý luận và phê bình văn đó cho thấy, cùng một vấn đề khoa học, có lúc tưởng chừng như cạn nghĩa, nhưng với nhiều cách tiếp cận khác nhau, vẫn luôn có được những ý tưởng mới mẻ, giàu sức thuyết hai bộ giáo trình LLVH hệ ĐH 1987 và 2005 và hệ cao đẳng 2003- 2005, ông đã đưa vào giáo trình nhiều quan điểm mới, hiện đại trên tất cả các nội dung cơ bản, từ đặc trưng đối tượng và nội dung văn học, tư duy nghệ thuật, cấu trúc hình tượng, ngôn từ như chất liệu của văn học, tiếp nhận văn học,đến văn bản, ngôn từ nghệ thuật, các loại hình nhân vật, các kiểu cốt truyện, cốt truyện và truyện kể…Có những nội dung rất mới mẻ so với thời điểm xuất hiện ở VN. Thí dụ, từ 1986, ông đã đưa Lí thuyết về tiếp nhận vào chương trình LLVH, mà thời điểm ấy, ở VN, chưa có mấy ai thực sự hiểu nó. Để nêu ra được các vấn đề LLVH này vào nhà trường, ông đã có những kiến thức và lập luận rất sắc sảo. Những đóng góp của ông về tư duy nghệ thuật, về cấu trúc hình tượng, cấu trúc nhân vật, điểm nhìn nghệ thuật, ngôn từ nghệ thuật,tính phi vật thể của hình tượng văn học… là những vấn đề cho đến tận hôm nay, chưa có ai vượt được ông trên phương diện nội dung giáo trình LLVH. Là những người trực tiếp giảng dạy LLVH ở bậc ĐH, chúng tôi thực sự đánh giá cao các bộ giáo trình này về mặt cập nhật kiến thức hiện đại và sự thuyết phục của hệ thống lập luận, vừa ở những quan điểm, vừa ở những thí dụ được phân tích. Ngoài ra, ở hệ SĐH vàđào tạo Tiến sĩ, ông còn có những chuyên đề như Thi pháp học, Văn học so sánh, Đặc trưng văn học, Phương pháp luận nghiên cứu văn học, Di sản Bakhtin…Mong muốn của ông là trình bày được những thành tựu mới nhất của LLVH thế giới, trên hai nguồn tài liệu từ Nga và Trung Quốc. Những nội dung được ông đề cập đến trong các bộ giáo trình và các chuyên đề, là những cố gắng lớn của ông trong việc ngày càng nâng cao hệ thống LLVH trong nước để có thể tiếp cận dần đến trình độ LLVH của thế giới. Sau khi ra mắt cuốn Văn học so sánh 2019, ông đang chuẩn bị cho nội dung cuốn Quá trình văn học. Chúng tôi rất hy vọng vào điều này. Bởi sách của ông, dù là giáo trình đại học nhưng không hề lạc hậu với nền LLVH trên thế giới. Gần như tất cả các vấn đề mới mẻ của LLVH thế giới đều đã ít nhiều được ông đề cập đến. Là một nhà LLVH, ông là người đưa ra rất nhiều những khái niệm LLVH mới, có những khái niệm thuộc về khái niệm chung như quan niệm nghệ thuật về con người, thế giới nghệ thuật, cái nhìn nghệ thuật, mô hình tự sự, tính mơ hồ, đa nghĩa của ngôn ngữ nghệ thuật, điểm nhìn trần thuật, ngôn ngữ thân thể…, nhưng cũng có những khái niệm xuất phát từ những nghiên cứu một tác gia, tác phẩm, giai đoạn văn học cụ thể như thơ trữ tình chính trị, giọng điệu quyền uy, tiểu thuyết đời tư, chữ thân trong truyện Kiều, trữ tình điệu nói, diễn ngôn lí luận …Tất cả những khái niệm đó đều có những nội hàm mới mới mẻ, có sức thuyết phục, được các thế hệ đi sau dễ dàng sử dụng, coi như là những nội dung có tính chất phương pháp được dùng chìa khóa mới để đi vào tìm hiểu tác phẩm, tác giả và giai đoạnvăn học. Trong các luận án TS mà ông hướng dẫn thành công, có thể thấy, với mỗi luận án, ông đã cố gắng cùng nghiên cứu sinh tìm hiểu kỹ càng một khái niệm LLVH, từ quan niệm nghệ thuật về con người, cái tôi trữ tình, biểu trưng nghệ thuật, hoàn cảnh nghệ thuật, diễn ngôn tiểu thuyết, trò chơi nghệ thuật… đến kết cấu trữ tình, giọng điệu trữ tình,giọng điệu trần thuật, diễn ngôn tiểu thuyết, diễn ngôn lí luận phê bình… Những khái niệm này trở thành cơ sở lý thuyết để các NCS khảo sát về mặt thực tiễn văn học. Vì vậy, các luận án ông hướng dẫn về sau đều in được thành sách, làm hành trang nghiên cứu văn học bước đầu cho các nhà nghiên cứu LLVH thế hệ sau. Đóng góp để xây dựng đội ngũ này của ông thật không hề nhỏ. Chứng kiến quá trình hướng dẫn luận án TS của ông, suốt 30 mươi năm ở Bộ môn LLVH, ĐHSPHN, có thể nói, ông thực sự là một nhà LLVH có tư tưởng, không chỉ ở chỗ ông có một kiến văn rộng rãi, tiếp thu được nhiều nguồn LLVH mới của thế giới, mà với mỗi công trình LLVH của ông, dù có khi mới ở bậc luận án tiến sĩ do ông hướng dẫn, ông đều mong muốn xác lập lí thuyết, triển khai hệ thống lí thuyết, vận dụng vào một hiện tượng văn học cụ thể. Vừa tiếp thu lí thuyết từ nước ngoài, ông vừa cố gắng chuyển hóa những lí thuyết đó thành của riêng khi hệ thống lại, lập luận lại, tìm thí dụ trên những hiện tượng văn học nước nhà một cách khá thuyết phục. Khi hướng dẫn tôi làm luận án về Cái tôi trữ tình1994, ông đã dựa vào lý thuyết của nhà tâm lý học Vunt, để đưa ra mấy tiêu chí nhận biết về cái tôi nói chung làm tiền đề cho lý thuyết về cái tôi trữ tình, mà thực sự trước đó ở Việt Nam chưa có ai đề cập. Tôi nhớ, khi bài báo Cái tôi và hình tượng trữ tình của ông ra đời có sự tham gia của tôi – LLOanh, năm 1993, đăng trên báo Văn nghệ, GS Phan Trọng Luận đã bảo tôi chắc GS Luận tưởng tôi viết là chính Bài viết giỏi lắm, nhưng hơi uyên bác quá ! . Còn ai đã chứng kiến những buổi thảo luận về các luận án TS ở bộ môn LLVH ĐHSPHN, ở đó ông không chỉ nhận xét về nội dung khoa học của các luận án khác, mà còn phải bảo vệ cho tư tưởng chính của luận án ông hướng dẫn, mới thấy ông là nhà LLVH luôn nhất quán nhiệt tình bảo vệ cho những quan điểm của mình. Ông không chỉ lo cho luận án ông hướng dẫn mà còn quan tâm đến những luận án khác của Bộ môn. Luận án nào có khó khăn, ông đều tìm cách giúp tháo gỡ, không kể luận án do ông hướng dẫn hay người khác hướng dẫn. Học trò cứ tìm đến ông là ông trình bày hiểu biết của mình như rút hết gan ruột. Cũng dưới sự hướng dẫn, góp ý của ông mà những luận án của bộ môn LLVH trong nhiều năm qua đã không tách rời các hướng nghiên cứu văn học mang tính thời sự, mà còn luôn gắn bó với đời sống văn học và đời sống thực tiễn của đất nước. Có thể kể đến những luận án như Tiểu thuyết VN đương đại, nhìn từ góc độ diễn ngôn,Lí thuyết trò chơi và một số hiện tượng thơ VN đương đại,Sự chuyển đổi diễn ngôn lí luận phê bình văn học VN từ thời kì đổi mới đến nay, Phê bình văn học VN 1945 -1986,Văn xuôi VN sau 1986 dưới góc nhìn phê bình sinh thái.. Không chỉ dừng lại ở những vấn đề LLVH trong nhà trường, ông còn luôn nâng cao các vấn đề LLVH thể hiện qua cácchuyên luận, qua các bài tranh luận trên báo chí… Ông đã có 3 cuốn Lí luận và phê bình văn học, 1996; Văn học và thời gian, 2001, Trên đường biên của lí luận văn học, 2014, tuyển những bài chuyên về LLVH, cả về phê bình văn học. Trong ba cuốn sách này, ông tập trung vào các vấn đề LLVH nảy sinh từ nhà trường cho đến các vấn đề nảy sinh trong giao lưu ý tưởng LLVH trong đời sống xã hội. Vẫn là những trăn trở củamột nhà LLVH, khi ông nhận thấy “cả đời đã được đào tạo trong môi trường lí thuyết cũ, bao nhiêu năm tuổi trẻ dành đọc các lí thuyết xơ cứng, đã nhận thấy những hạn chế của lí thuyết xô viết và tìm cách diễn giải lại”, ông đã “cố gắng tìm hiểu trình bày lại một số khái niệm cơ bản trên tinh thần khẳng định các nhân tố hợp lí trong lí thuyết truyền thống và diễn giải lại theo tinh thần tri thức mới” Lời nói đầu cuốn Trên đường biên của LLVH. Có những khái niệm, những vấn đề mà theo những tài liệu hiện hành ở VN thì tưởng chừng như cạn nghĩa, nhưng dưới suy nghĩ của ông, còn rất nhiều điều còn cần phải bàn đến như Tính nhân loại của văn học, Ý thức về cá tính,Bản sắc dân tộc của văn học, Ngôn ngữ thơ, Ngôn ngữ nghệ thuật, Phản ánh luận, Ý thức hệ, Văn học và hiện thực …Những ý kiến và quan điểm được trình bày luôn mang tính đối thoại với những ý tưởng cũ. Bên cạnh đó là nhũng vấn đề hoàn toàn mới như Hệ hình mới của lí luận, Cấu trúc đối thoại, Văn học là tư duy về cái khả nhiên, Tính kí hiệu của hình tượng văn học, Bước ngoặt diễn ngôn và chuyển đổi hệ hình trong nghiên cứu văn học…Ba cuốn sách này, đặc biệt là cuốn Trên đường biên của lí luận văn học, đều được giới chuyên môn đánh giá cao như những hiện tượng nổi bật của LLVH VN những năm gần đây. Trước đó, với Những thế giới nghệ thuật thơ, ông đã tổng kết, khái quát về một số các loại hình thơ ca cơ bản như thơ cổ điển, thơ lãng mạn, thơ tượng trưng, thơ cách mạng. Các loại hình thơ ca được trình bày có hệ thống, được phân tích toàn diện, có rất nhiều thí dụ thuyết phục, rất có ý nghĩa với những người quan tâm đến sự tổng kết mang tính lịch sử về thơ ca, không chỉ VN mà còn cả trên thế giới. Về Tự sự học, một trong những hướng đi của nghiên cứu văn học thế giới, mới du nhập vào VN khoảng 20 năm nay, ông đã chủ trì hai Hội nghị khoa học toàn quốc năm 2001 và 2009, tập hợp thành hai cuốn kỉ yếu Tự sự học- những vấn đề lí luận và thực tiễn in năm 2006 và 2010, được dư luận đánh giá là hai cuốn sách có những giới thiệu về Tự sự học mà ai ở VNquan tâm về Tự sự học không thể bỏ cũng để nâng cao hơn nữa về việc giới thiệu cũng như thực hành Tự sự học, ông đã cùng nhóm nghiên cứu cho ra đời Tự sự học – Lí thuyết và ứng dụng,2017, giới thiệu một cách có hệ thống những nội dung cơ bản và mới mẻ nhất của Tự sự học trên thế giới và VN. Theo ông, lí thuyết là để vận dụng. Vì vậy ông hầu như ít giới thiệu mà đưa ra một hệ thống lý thuyết của riêng mình, kết hợp nhiều quan niệm của các nhà khoa học đi vận dụng LLVH trong những công trình về thi pháp học của ông là những minh chứng thành công về phương diện này. *** Cuộc đời con người vừa dài vừa ngắn! Ngẫm nghĩ lại, đời người quá dài vì tám mươi năm trải qua bao nhiêu thăng trầm, chứng kiến bao biến thiên của đất nước, thời cuộc, có thể làm được bao nhiêu việc, để lại cho đời bao điều có giá trị. Nhưng cuộc đời cũng quá ngắn vì con người còn muốn làm bao nhiêu việc có ích cho đời nữa. Nhân dịp GS. Trần Đình Sử tròn tám mươi xuân, chúng tôi, những kẻ hậu sinh xin chúc GS., nhà LLVH, nhà thi pháp học, vẫn tiếp tục cống hiến cho nền LLVH của Việt Nam những sản phẩm tinh thần luôn ở dạng đỉnh cao mà khó có ai vượt qua được!. 29/3/2020
Trần Đình Sử sinh ngày 10 tháng 8 năm 1940 là một giáo sư, tiến sĩ lý luận văn học, Nhà giáo Nhân dân, giảng viên Đại học Sư phạm Vinh, Đại học Sư phạm Hà Nội và một số trường đại học khác ở Việt Nam. Ông là một trong những nhà lí luận văn học hàng đầu của Việt Nam và có nhiều đóng góp trong việc làm thay đổi diện mạo nền lí luận, phê bình văn học của Việt Nam những năm cuối thế kỉ XX đầu thế kỉ XXI[1].Giáo sư, Tiến sĩ, Nhà giáo nhân dânTrần Đình SửGiáo sư Tiến sĩ, Nhà giáo Nhân dân Trần Đình SửSinhTrần Đình SửHuếQuốc tịch Việt NamDân tộcKinhTrường lớpGiáo sư Tiến sĩNghề nghiệpNhà Sư phạm, Nhà nghiên cứuGiáo sư Trần Đình Sử được phong danh hiệu Nhà giáo Ưu tú năm 2002, Nhà giáo Nhân dân năm 2010[2], được Nhà nước Việt Nam tặng thưởng Huân chương Kháng chiến chống Mĩ hạng Ba, Huân chương Lao động hạng Nhì, Huy chương Vì sự nghiệp giáo Đình Sử là người có vốn kiến văn rộng, bao quát một khối lượng tri thức thuộc nhiều lĩnh vực, am hiểu văn học, văn hóa Việt Nam. Đóng góp lớn nhất trong sự nghiệp nghiên cứu và giảng dạy của ông tập trung vào hai lĩnh vực chính là lí thuyết và nghiên cứu văn học Việt Nam. Trong đó ở mảng lí thuyết, tập trung chủ yếu ở lĩnh vực thi pháp học[3] và tự sự học[4].Tiểu sửTrần Đình Sử sinh ngày 10 tháng 8 năm 1940 tại Huế. Quê gốc tại làng Phú Lễ, xã Quảng Phú, huyện Quảng Điền, tỉnh Thừa Thiên, sau này là Thừa Thiên - năm 1945, Pháp tái chiếm Huế, mặt trận Huế vỡ, gia đình Trần Đình Sử chuyển ra Quảng Trị, chuyển lên sống tại thôn Lương Hạ, xã Triệu Nguyên, Triệu Phong tỉnh Quảng Trị, thuộc Chiến khu Ba Lòng, Quảng Trị. Trần Đình Sử học tiểu học ở đó. Năm 1952 ra Đức Thọ Hà Tĩnh, ở Trại Thiếu sinh Quảng Trị, Học lớp 5 và 6 tại Hà 1954, hoà bình lập lại, Trại thiếu sinh Quảng Trị giải tán Trần Đình Sử chuyển sang trường học sinh miền Nam mới thành lập. Lúc đầu ở trường Học sinh Miền Nam số 8, đóng tại Dương Liễu, Hoài Đức, sau chuyển sang trường Học sinh Miền Nam số 24 đóng tại thôn Thượng Cát, Từ Liêm, Hà Đông. Tại đây học xong lớp 7. Năm 1956, khi lên cấp 3, ông chuyển sang Phân hiệu Học sinh Miền Nam đóng tại trường Phổ thông cấp 3 Hà Nội, tại Lý Thường Kiệt, sau chuyển sang trường Nguyễn Trãi 3 tại 30 Phan Đình Phùng Hà Nội và tốt nghiệp phổ thông ở khoảng thời gian từ năm 1959 tới năm 1961 ông học tại Phân khoa Trung văn, Khoa Ngoại ngữ, Trường Đại học Sư phạm Hà Nội, đỗ thủ khoa, được giữ lại làm cán bộ giảng dạy từ tháng 10 năm năm 1962 đến 1966 ông được cử đi tu nghiệp văn học tại Đại học Tổng hợp Nam Khai, Khoa Văn học theo chế độ tiến tu thực tế học theo năm thứ ba và thứ tư. Năm 1966 về nước và được cử vào giảng dạy tại Trường Đại học Sư phạm Vinh, Bộ môn Lí luận văn học, khoa năm 1968 đến 1969, ông học chuyên tu Nga văn một năm. Năm 1974, tiếp tục học chuyên tu Nga văn 1 năm nữa. Năm 1976 đến năm 1980 làm nghiên cứu sinh tại Khoa Ngữ Văn, Đại học Tổng hợp Kiev, Liên Xô, bảo vệ luận án ngày 20 tháng 10 năm 1980. Giáo viên hướng dẫn là GS. TS. Lidia Pavlovna Alexandrova, chuyên gia về tiểu thuyết lịch sử. Tên đề tài Thời gian nghệ thuật - yếu tố chỉnh thể của hình tượng nghệ thuật qua tiểu thuyết lịch sử viết về Lênin.Năm 1981, Trần Đình Sử về nước và làm việc tại Khoa Ngữ Văn, giảng dạy Bộ môn Lí luận văn học, Đại học Sư phạm Hà Nội. Ông làm việc ở đó cho đến khi về hưu năm 2008. Tuy về hưu, nhưng ông vẫn tham gia đào tạo bậc thạc sĩ và tiến sĩ ở trường Đại học Sư phạm Hà Nội và nhiều cơ sở đào tạo khác thuộc các trường đại học và học viện ở Việt Nam cho đến nghiệpTrần Đình Sử bắt đầu nghiên cứu khoa học từ năm 1969, ông công bố Báo cáo khoa học nhan đề “Phong cách cơ bản của thơ Tố Hữu”, sau được trong in Kỉ yếu khoa học Khoa văn Đại học Sư phạm Vinh 1974. Trong bài này ông đã vận dụng khái niệm thế giới nghệ thuật, không gian, thời gian nghệ thuật. Năm 1972, ông viết tiểu luận Đặc trưng văn học trong tính chỉnh thể 100 trang. Cũng trong thời gian này, ông đã dịch cuốn Giáo trình Dẫn luận Lí luận văn học của L. V. Sêpilova M., 1956 sang tiếng Việt, in roneo để làm tài liệu tham khảo cho sinh viên. Cũng vào năm 1974, Trần Đình Sử tham gia biên soạn cuốn Thuật ngữ nghiên cứu văn học, do Đại học Sư phạm Vinh xuất hướng nghiên cứu khoa học chính của Trần Đình Sử bao gồm nghiên cứu lí thuyết văn học và văn học Việt Nam. Trong đó, về lí thuyết, ông tập trung vào đặc trưng văn học. Trần Đình Sử đi sâu khám phá các giá trị nghệ thuật của văn học, theo thuật ngữ chung của giới học thuật Nga gọi là thi pháp học. Sau khi ở Nga về, Trần Đình Sử chủ yếu nghiên cứu thi pháp học về lí thuyết và thực hành. Và để giảng dạy về thi pháp học ông đã tổng hợp các nghiên cứu của học giả Nga để viết thành giáo trình thi pháp học ở Việt Nam. Sau này, khi Liên Xô sụp đổ, các giáo trình của N. Tamarchenco và V. Tiupa, Broitman mới được xuất bản. Trong giáo trình của Trần Đình Sử, ông đã sử dụng các phạm trù của các nhà thi pháp học Nga như Quan niệm con người, không gian, thời gian nghệ thuật, hình tượng tác giả, thể loại, trần thuật, ngôn ngữ. Việc trình bày các trường phái thi pháp học phương Tây cũng gặp nhiều khó khăn vì ở Nga vào thời điểm những năm 80, không có công trình nào miêu tả các trường phái nghiên cứu phương Tây một cách chính diện, họ chỉ coi đó là các học thuyết tư sản và tiến hành phê phán. Trần Đình Sử phải qua các tài liệu phê phán đó để lọc lấy những tư tưởng mà ông cho là mới mẻ để đưa vào giáo trình của tư tưởng của Trần Đình Sử về mặt lí thuyết được thể hiện rõ ràng trong các chuyên luận và các giáo trình. Cụ thể, gồm các chuyên đề cao học Đặc trưng của văn học. Thi pháp học, Tự sự học. Ông có tham vọng nghiên cứu thi pháp các hiện tượng văn học tiêu biểu của Việt Nam và đã xuất bản nhiều chuyên luận chuyên sâu, trong đó tiêu biểu là các công trình nghiên cứu về Tố Hữu, Nguyễn Du, và Văn học Trung đại Việt Nam[5].Một khuynh hướng nữa trong các công trình của Trần Đình Sử là nghiên cứu văn học so sánh. Hiện nay đã có một số công trình nghiên cứu đăng báo, in sách, giảng chuyên đề cao học. Ông dự kiến sẽ xuất bản Giáo trình Văn học so sánh vào năm mảng nghiên cứu lí thuyết văn học Nga thế kỉ XX, Trần Đình Sử đã nghiên cứu, phiên dịch M. Bakhtin, IU. Lotman, D. Likhachev, V. Girmunski và nhiều người khác. Ông cũng nghiên cứu lí thuyết văn học Trung Quốc hiện đại và đã có sách xuất bản về mảng đề tài này. Ông cũng tập trung vào hướng nghiên cứu di sản lí thuyết văn học trung đại Việt Nam, thể hiện qua các bài báo lẻ và sách dịch của Lixêvich… Đề tài yêu thích của ông là nghiên cứu quan niệm về con người trong văn học. Ông đã xuất bản công trình Con người trong văn học trung đại Việt Nam. Ông cũng quan tâm đến kí hiệu học và đã có các bài dịch thuật và một số bài nghiên cứu về vấn đề tham gia đào tạo tiến sĩ từ những năm 80, hướng dẫn tiến sĩ từ năm 1990 và đã hướng dẫn hơn 30 nghiên cứu sinh bảo vệ thành công luận án tiến vị công tácTrong thời gian công tác ở Đại học Sư phạm Hà Nội ông đã từng giữ những cương vị sauTrưởng Khoa Ngữ Văn, Trường Đại học Sư phạm Hà Nội, 1990 - Bộ môn Lí luận văn học và Chủ nhiệm Khoa Ngữ Văn, Trường Đại học Sư phạm Hà Nội, 1997 – viên Hội Nhà văn Việt Nam, viên Hội đồng lí luận phê bình Hội Nhà văn Việt Nam từ 1995 đến viên Hội đồng lí luận phê bình văn học nghệ thuật Trung ương từ 2003 đến viên Hội đồng Chức danh nhà nước ngành Văn học từ năm 1990 đến phẩmCác công trình nghiên cứu, dịch thuật xếp theo thời gianDẫn luận nghiên cứu văn học do G. N. Pospelov chủ biên dịch chung với Lại nguyên Ân, Lê Ngọc Trà, Nguyễn Nghĩa Trọng, Nhà xuất bản GD, 1985, 2 tập. Năm 1998 tái bản bỏ bớt một số chương, chỉ còn 1 trình Lí luận văn học, tập 1 và 2, viết chung 1986 và 1987. Ông viết 11 chương trên 30 chương của bộ pháp thơ Tố Hữu, Nhà xuất bản. Tác phẩm mới, 1987. Tái bản 5 tưởng văn học Trung Quốc của I. S. Lisevich, Nhà xuất bản. ĐHSP. Hồ Chí Minh, 1990. In lại nhiều lần tại Nhà xuất bản. Giáo số vấn đề thi pháp học hiện đại trong chương trình văn học phổ thông, Vụ giáo viên xuất bản, 1993. Tài liệu bồi dưỡng giáo viên. Do Vụ Giáo viên, Bộ GD và ĐT đặt hàng nhằm nâng cao trình độ giáo vấn đề thi pháp Dostoievski, dịch chung với Lại Nguyên Ân và Vương Trí Nhàn, Nhà xuất bản. Giáo dục, 1993. Tái bản năm thế giới nghệ thuật thơ, Nhà xuất bản. Giáo dục, 1995. Nối bản in lại nhiều luận và phê bình văn học, Nhà xuất bản. Hội nhà văn, 1996. Giải thưởng Hội nhà văn năm 1997, tái bản 6 lần tại Nhà xuất bản. Giáo pháp thơ Đường, viết và dịch chung với Nguyễn Khắc Phi, Nhà xuất bản. Giáo dục, Đà Nẵng, số vấn đề thi pháp văn học trung đại Việt Nam, Nhà xuất bản. Giáo dục, 1998. Tái bản 2 luận thi pháp học, Nhà xuất bản. Giáo dục, văn học văn, tập hợp những bài phân tích bình luận văn học trong nhà trường in trên báo và các sách, Nhà xuất bản. Giáo dục, Hà Nội, ngữ nghệ thuật thơ Đường của hai tác giả Mĩ gốc Hoa Cao Hữu Công và Mai Tổ Lân, dịch chung với Lê Tẩm, NXb Văn học, Hà Nội, học và thời gian, Nhà xuất bản. Văn học, 2002, tái bản năm sau, 2003. Tập hợp những bài viết về văn học và văn pháp Truyện Kiều, Nhà xuất bản. Giáo dục, 2002. Tái bản 8 lần, bổ sung xuất bản tại Nhà xuất bản. Đại học Sư phạm, Hà Nội, bài giảng mĩ học. Sách dịch của Lý Trạch Hậu, dịch chung, Nhà xuất bản. Đại học Quốc gia, Hà Nội, 2004. Tái bản luận thi pháp học phiên bản thứ ba, Nhà xuất bản. Giáo dục, Hà Nội, 2004. Tái bản điển thuật ngữ văn học, đồng chủ biên. Về sau, Trần Đình Sử đã chỉnh lí toàn bộ, bổ sung, Nhà xuất bản. Giáo dục, 2004, tái bản nhiều trình Lí luận văn học, Tập 1 và tập 2, viết mới, Nhà xuất bản. Đại học Sư phạm Hà Nội, 2003 và 2004, tái bản nhiều sự học Một số vấn đề lịch sử và lí luận, Chủ biên, Nhà xuất bản. Đại học Sư phạm, Hà Nội, 2003, tái bản 2007 và học so sánh, lịch sử và triển vọng, Chủ biên, Nhà xuất bản. Đại học Sư phạm Hà Nội, Đình Sử tuyển tập, hai tập, Nhà xuất bản. Giáo dục, Hà Nội, 2004, giáo khoa Trung học cơ sở, chủ biên phần làm văn 2003 đến naySách giáo Khoa Ngữ Văn, Trưởng nhóm soạn thảo chương trình, Tổng chủ biên bộ nâng cao 2003 -2006, sử dụng cho đến sự học, những vấn đề lịch sử và lí thuyết, tập 2, chủ biên, Nhà xuất bản. Đại học Sư phạm, Hà Nội, luận văn học, tập 2, Nhà xuất bản. Đại học Sư phạm, 2008. Tái bản nhiều tập nghiên cứu văn học, Nhà xuất bản. Hội nhà văn, nền Lí luận văn học hiện đại, nhìn qua thực tiễn Trung Quốc. Nhà xuất bản. Đại học Sư phạm, Hà Nội, đường biên của Lí luận văn học, Nhà xuất bản. Văn học, 2014. Tái bản 2015, Giải thưởng Hội nhà văn Hà Nội, hiệu học văn hoá, dịch chung với Lã Nguyên, Đỗ Hải Phong, Nhà xuất bản ĐHQG, sự học, lí huyết và ứng dụng, chủ biên, Nhà xuất bản. Giáo dục, Hà Nội, luận thi pháp học văn học phiên bản mới, Nhà xuất bản. Đại học Sư phạm, Hà Nội, ngữ văn và dạy học ngữ văn trong nhà trường phổ thông, Nhà xuất bản. Đại học Sư phạm, Hà Nội, văn học văn, bổ sung, Nhà xuất bản. Tri thức, luận và thi pháp văn học, Nhà xuất bản ĐHSP, Hà Nội, 2020. 652 trangCơ sở văn học so sánh, Giáo trình đại học, Nhà xuất bản ĐHSP, Hà Nội, 2020. 236 sử văn học Việt Nam chủ biên, Nhà xuất bản ĐHSP, 2021, 339 sự học- từ kinh điển đến hậu kinh điển sách tái bản chủ biên, Nxb Giáo dục, Hà Nội, 2022,528 các tập sách trên Trần Đình Sử còn viết, chủ biên trên 100 cuốn gồm sách giáo khoa, sách hướng dẫn giảng dạy, sách bài tập, sách hướng dẫn làm văn cho học sinh các lớp từ lớp 6 đến lớp 12, góp một phần đổi mới dạy học văn học, ngữ văn trong trường phổ cách, hướng nghiên cứuĐưa thi pháp học vào Việt Nam những năm 80, Trần Đình Sử đã đáp ứng nhu cầu đổi mới phương pháp tiếp cận văn học sau một thời gian dài đóng khung trong phương pháp xã hội học, thậm chí là dung tục, hướng mối quan tâm vào nghệ thuật. Thi pháp học của ông đã cung cấp một loạt khái niệm mới, thuật ngữ mới, đem đến những khả năng mới trong việc cảm thụ văn học, kích thích nhiều thế hệ người học, giúp họ tìm tòi, khám phá về văn học.[6]. Thực tế đã cho thấy, về sau, ở Việt Nam cũng đã bắt đầu xuất hiện nhiều khuynh hướng phê bình khác nhau song phê bình thi pháp vẫn chiếm một vị trí quan trọng bởi nó gắn với bản chất nghệ thuật của văn thuyết thi pháp học Trần Đình Sử là một phiên bản Việt Nam. Nó không sao chép một lí thuyết nào mà là một sự tổng hợp, hệ thống hoá của tác giả qua nhiều thời gian nghiên cứu, thể nghiệm[7].Với những nghiên cứu của Trần Đình Sử, ông đã chấm dứt sự phân lập nội dung và hình thức trong nghiên cứu văn học. Ở đây, hình thức mang quan niệm và qua hình thức để khám phá nội dung, không có chuyện phát hiện nội dung rồi mới đi tìm hình việc phiên dịch, giới thiệu, vận dụng lí thuyết văn học nước ngoài Nga, Trần Đình Sử đã góp phần đưa vào đời sống phê bình, lí luận những khái niệm mới hoặc với nội hàm mới như thi pháp, thế giới nghệ thuật, không gian, thời gian nghệ thuật, các loại hình nội dung thể loại sử thi, thế sự, đời tư, thơ điệu nói… Ông đã đem vào nghiên cứu một lối viết khác hẳn lối phê bình thơ mà Hoài Thanh đề xướng. Đó là việc đi tìm những dẫn chứng, lập luận thể hiện sự lặp lại trong tư duy nghệ thuật của nhà văn,từ đó chỉ ra đặc trưng nghệ thuật, phong cách. Lối phân tích phẩm bình thơ văn của Trần Đình Sử cũng có nét riêng không lẫn với cách làm của các tác giả khác. Nó hoàn toàn thoát khỏi lối trích dẫn những câu hay để bình, tán trong nghiên cứu văn thưởngGiải thưởng của Hội Nhà văn Việt Nam năm 1997 cho cuốn sách Lí luận và phê bình văn học. Nhà xuất bản. Hội nhà văn, 1996.Giải thưởng Nhà nước về khoa học và công nghệ năm 2000 cho cụm công trình Thi pháp học, gồm các công trình Thi pháp thơ Tố Hữu Nhà xuất bản. Tác phẩm mới, H., 1987, '’Lí luận và phê bình văn học Nhà xuất bản. Hội nhà văn H., 1996, Những thế giới nghệ thuật thơ Nhà xuất bản. Giáo dục, H., 1995, Dẫn luận thi pháp học Nhà xuất bản. Giáo dục, H., 1998.Giải thưởng Hội nhà văn Hà Nội năm 2015 cho cuốn sách Trên đường biên của Lí luận văn học, Nhà xuất bản. Văn học, 2014.Ông nhận Giải thưởng Văn hóa Phan Châu Trinh lần thứ X, năm 2017, vì những đóng góp to lớn và lâu dài trong lĩnh vực nghiên cứu văn thích^ Nguyễn Đăng Điệp. “Con đường khoa học của Trần Đình Sử”, in trong Trần Đình Sử tuyển tập, tập 1, Nhà xuất bản Giáo dục, 2004^ 1194 nhà giáo được phong tặng danh hiệu NGND, NGƯT năm 2010^ Lã Nguyên, “Trần Đình Sử và hướng nghiên cứu Thi pháp học.^ Cao Kim Lan. “Tự sự học và thực tiễn tiếp nhận ở Việt Nam, Tạp chí Lí luận Văn học Nghệ thuật Trung ương, số 9/2018.^ Trần Đình Sử tuyển tập, tập 1&2, Nhà xuất bản. Giáo dục, Hà Nội 2004, 2005^ [Trần Đình Sử. Dẫn luận Thi pháp văn học. Nhà Xuất bản Đại học Sư phạm, Hà Nội, tái bản 2017.]^ Lã Nguyên, “Thi pháp Truyện Kiều của Trần Đình Sử và giới hạn của những cách đọc”Liên kết ngoàiTrần Đình SửTrần Đình SửThi pháp Truyện Kiều của Trần Đình Sử và giới hạn của những cách đọcTrên đường biên của lý luận văn học Lưu trữ 2019-02-14 tại Wayback MachineTrần Đình Sử, tại sao?Trần Đình Sử và hướng nghiên cứu thi pháp học
VỚI KÍ HIỆU HỌC VÀ THI PHÁP HỌC Hoàng Trinh là bút danh của giáo sư, viện sĩ Hồ Tôn Trinh, sinh năm 1920, quê ở Thạch Hà, Hà Tĩnh. Trước 1945 ông có bằng tú tài, từ trong kháng chiến chống Pháp cho đến sau hòa bình lập lại 1954 ông liên tục làm cán bộ tuyên huấn, cho mãi đến năm 1959, khi thành lập Viện văn học, được phái về làm nghiên cứu văn học. Gần 40 tuổi ông mới gia nhập giới nghiên cứu, trở thành nhà phê bình văn học macxit Việt Nam. Năm ấy khi thành lập Viện văn học ông phụ trách nghiên cứu văn học phương Tây. Ông từng làm Viện phó, rồi viện trưởng Viện văn học, từng phụ trách chỉ đạo biên soạn các mục từ về khoa học xã hội và nhân văn cho Từ điển Bách khoa Việt Nam. Ông thường tham dự các hội thảo khoa học ở nước ngoài, được kết nạp làm Hội viên hội kí hiệu học quốc tế, được bầu làm viện sĩ danh dự Viện Hàn lâm khoa học Hunggari. Suốt thời gian 10 năm ở Viện văn học ông cũng có viết nhiều bài vở nhưng ít gây được ấn tượng. Từ năm 1969, khi ông công bố tập sách Phương Tây, văn học và con người, tập1, rồi đến năm 1971 ra tiếp tập 2, một công trình tương đối quy mô về văn học phương Tây đương đại, ông mới được chú ý. Trong sách ấy ông đề cập đến từ bóng đen của chủ nghĩa đế quốc đến chủ nghĩa hiện sinh, phê phán Camus và văn học nổi loạn, phê phán tiểu thuyết về thân phận con người, tiểu thuyết và thời gian, phê phán Kafka và huyền thoại. Người ta chú ý đến đề tài văn học và con người của ông, nó có nội dung triết học. Đây là bộ sách phê phán các quan niệm văn học tư sản được coi là đồi truỵ, bế tắc của phương Tây mà các đô thị miền Nam đang tiếp nhận, do đó nó cũng có ý định gián tiếp hướng tới đấu tranh chống văn hoá thực dân mới ở miền Nam Việt Nam, thể hiện nhiệt tình chiến đấu của người chiến sĩ văn hoá, nhưng cách viết tỏ ra có sự hiểu biết về con người của một thế giới khác. Trong sách ở lần xuất bản đầu tiên có nhiều lời phê phán nặng nề mà sau này khi tái bản ở nhà xuất bản Hội nhà văn Việt Nam năm 1991 ông đã bỏ bớt cho thích hợp. Các học giả sành tiếng Pháp như Huỳnh Lý, Trương Chính có ý chê một số câu chữ tiếng Pháp mà ông dịch chưa thông, chưa thoát, và tỏ ý chưa tin vào học thuật của ông. Trong bản in của Tuyển tập văn học của ông vẫn còn rất nhiều lỗi về biên tập. Có một điều thú vị là mặc dù ông phê phán văn học phương Tây, nhưng ông lại dần dần chuyển sang nghiên cứu lí luận văn học phương Tây như kí hiệu học và thi pháp học, trở thành bạn hữu với một số học giả phương Tây như Thomas Albert Sebeok, nhà kí hiệu học Mĩ, gốc Hungari, sinh năm 1920, đồng tuế với ông. Và có lẽ cũng chính ông này kết nạp Hoàng Trinh vào Hiệp hôi kí hiệu học quốc tế và tạo điều kiện cho ông, tức là đưa giấy mời để ông có cơ hội tham dự và đọc các báo cáo về thơ ca Việt Nam trên diễn đàn kí hiệu học quốc tế. Sau này vào những năm 80, tôi nhiều lần đến chơi nhà ông ở Viện văn học ông có cho biết về mối quan hệ ấy. Ngoài việc phê phán văn học phương Tây hiện đại, Hoàng Trinh cũng phê phán chủ nghĩa cấu trúc, kí hiệu học, phê phán phê bình mới. Nhưng lạ thay, trong khi tìm hiểu sâu các lí thuyết cần phải phê phán, thì Hoàng Trinh đã bị các lí thuyết kia thuyết phục và từng bước tư duy theo các lí thuyết ấy. Sự phê phán của tác giả chẳng qua là nêu các mệnh đề có tính khẩu hiệu, quy chụp, nào duy tâm, siêu hình, phản lịch sử, nào phủ nhận hiện thực, phủ nhận bản chất, và khẳng định chủ nghĩa Mác Lê là học thuyết duy nhất đúng đắn. Nói một cách khác nhà lí luận của chúng ta không đủ vũ khí để đánh gục đối tượng cần phê phán, mà ngược lại bị nó chinh phục. Mà đúng thật, những cán bộ tuyên huấn thiên về tư duy chính trị, mới đọc thông tiếng Pháp, làm quen với các khái niệm triết học kiểu phương Tây, thì khó mà phê phán được các lí thuyết của các đầu óc hơn người của nhân loại của thế kỉ, làm sao mà chỉ ra được những chỗ phi lí, sai logic, thiếu căn cứ để đánh đổ nó được. Cùng lắm là chỉ ra được nó khác với hoặc là phản lại triết học Mác Lê mà thôi. Mà nhận ra sự khác biệt hay phản lại thì không phải là phê phán. Người ta chỉ phê phán được khi nào vạch ra những sai lầm trong nguyên lí của học thuyết bị phê phán khiến cho nó sụp đổ. Ngược lại sự bị thuyết phục của các nhà mác xít của ta chứng tỏ một sự tiến bộ đáng mừng. Do đó sau khi “phê phán” Hoàng Trinh đã ngả về phía của lí thuyết mà ông phê phán kia, và bắt đầu nghiên cứu kí hiệu học và chủ nghĩa cấu trúc của Saussure và Jakobson. Ông cho biết đã bắt đầu nghiên cứu kí hiêu học từ năm 1970. Năm 1980 ông công bố công trình Kí hiệu, nghĩa và phê bình văn học. Phần lớn các bài trong tập này viết vào giữa những năm 70 và đăng trên tạp chí Học Tập của Đảng cộng sản Việt Nam và Tạp chí văn học. Trong sách này tác giả cũng “phê phán” chủ nghĩa cấu trúc ở những điểm râu ria, nhưng căn bản thì khẳng định nó là đúng và cần vận dụng. Ông viết “Kí hiệu học có nhiều phát hiện và đóng góp quan trọng trong việc tìm hiểu các loại hệ thống kí hiệu được xem như những hệ thống thông báo và hệ thống tạo nghĩa. Nó giúp cho người ta hiểu thêm cấu trúc hình thức, ngọn nguồn sự hình thành và công dụng của các loại hình ngôn ngữ xuất hiện và phát triển trong đời sống xã hội và đời sống văn hoá của con người. Từ sự đối lập và thống nhất giữa hai mặt của kí hiệu ngôn ngữ do Saussure khám phá ra, kí hiệu học sẽ dẫn người ta đến thế giới phức tạp và thú vị của các hệ thống thông báo, nhìn thấy rõ sự xâm nhập và sự chuyển hoá giữa các hệ thống, tạo thành hệ thống hàm nghĩa système conotatif, hệ thống siêu ngôn ngữ système métalangage, hai hệ thống rất quan trọng thể hiện ra ở trong nhiều lĩnh vực của văn hoá và khoa học văn học, sân khấu, điện ảnh, thông tin, các khoa học xã hội và tự nhiên”[1], “Với những khám phá của nó, kí hiệu học vận dụng vào phê bình văn học có thể đem lại những kết quả tốt. Nó là một môn học có tác dụng giúp chúng ta tìm hiểu ngôn ngữ của tác phẩm và từ đó tìm hiểu nội dung và hình thưc của tác phẩm”[2]. Từ năm 1974 Hoàng Trinh đã đăng liên tiếp trên Tạp chí Tác phẩm mới của Hội nhà văn loạt bài nhan đề Vấn đề kí hiệu và thông tin trong văn học, nghệ thuật, giới thiệu kí hiệu học, khái niệm kí hiệu của Peirce 1839 – 1914 , khái niệm cái biểu đạt và cái được biểu đạt của Saussure 1857 – 1913, quan hệ võ đoán của nó, tính đa nghĩa của ngôn từ, mô hình giáo tiếp của R. Jakobson 1896 – 1982, thông tin và độ dư của thông tin. Nhưng quan điểm của Hoàng Trinh rất hạn chế. Ông chỉ biết một quan điểm của Saussure, rằng kí hiệu có cái biểu đạt và cái được biểu đạt. Ông giới thiệu kí hiệu ba thành phần của Peirce, cái biểu đạt của Saussure thì Peirce gọi bằng thể biểu hiện, còn cái được biểu đạt thì Peirce chia làm hai thành phần một là đối tượng được chỉ ra và hai là sự giải thích về đối tượng ấy. Trên thực tế kí hiệu không chỉ chỉ ra sự vật, đối tượng mà còn gợi ra sự giải thích về đối tượng ấy nữa. Phần lớn các nhà kí hiệu học ngày nay đi theo hướng của Peirce, chứ không phải của Saussure, nhưng Hoàng Trinh đã phê Peirce “Nhưng quan điểm của Peirce là quan điểm duy tâm và hình thức chủ nghĩa cực đoan. Đối với ông, cái gì cũng là kí hiệu, “toán, luân lí, siêu hình học, thiên văn học, tâm lí học, …, đàn ông, đàn bà, , rượu vang…” đều phải được xem xét, nghiên cứu như những kí hiệu. Cả thế giới là một thế giới kí hiệu, cái này là kí hiệu của cái kia, kí hiệu này là kí hiệu của kí hiệu kia…ngôn ngữ đối với Peirce cũng chỉ là một thế giới tượng trưng, ước lệ đơn thuần”[3] Ngày nay ai cũng biết, kí hiệu này đòi hỏi giải thích bằng một kí hiệu khác, khi tìm nghĩa của một cái biểu đạt này trong từ điển, ta được một chuỗi cái biểu đạt khác, mà chưa đến được với cái được biểu đạt, cái biểu đạt và cái được biẻu đạt bị tách rời, và như vậy dẫn đến lập luận của lí thuyết giải cấu trúc. Rõ ràng Hoàng Trinh dừng lại trước giải cấu trúc luận, ông chỉ biết chủ nghĩa cấu trúc mà thôi và ông đã không hiểu được nhà triết học Mĩ. Vấn đề thế giới biến thành kí hiệu đã được E. Cassirere giải thích trong sách Bàn về con người. Trên thực tế con người không thể đối diện trực tiếp với thế giới, mà bị gián cách bới cả thế giới kí hiệu vây bọc xung quanh. Những chỗ nhầm lẫn như vậy còn có thể tìm thấy trong sách của ông. Điều thú vị là khi vận dụng kí hiệu học để giải thích câu tục ngữ “Uống nước nhớ nguồn” thì ông bắt gặp kí hiệu ba thành phần của Peirce. Ngoài âm thanh và nghĩa đen, uống nước được hiểu là “hưởng”, nhớ có nghĩa là “nhớ ơn”, “báo đáp”, nguồn có nghiã là “người đi trước”, “kẻ làm ra”. Từ đó mà thấy qúa trình nghĩa tạo ra nghĩa trong tục ngữ. Cái vướng của Hoàng Trinh là vấn đề “tại sao kí hiệu có tính ước lệ mà phản ánh được hiện thực?” Và phải “chống lại những kẻ lợi dụng kí hiệu học để bác bỏ chủ nghĩa hiện thực”. Đối với vấn đề kí hiệu của văn học, Hoàng Trinh chưa đi đến cùng. Chẳng hạn, theo kí hiệu học thì phải đi tìm ngôn ngữ của văn học, nhưng qua các công trình không thấy ông đi tìm ngôn ngữ này. Theo kí hiệu học thì cần xem xét hình tượng văn học, các nhân vật, chuỗi sự kiện, chi tiết, truyện kể có phải là kí hiệu không? Năm 1976 M. Khrapchenco xuất bản sách Sáng tạo nghệ thuật, hiện thực, con người Việt Nam dịch in tại Nxb KHXH năm 1986, đã có bài tiểu luận dài bàn về tính kí hiệu của văn học. Ông chỉ thừa nhận các chi tiết văn học có tính kí hiệu, nhưng không thừa nhận nhân vật, hình tượng nghệ thuật là kí hiệu, mà xem chúng là các hình thức khái quát chân lí. Nhưng quan điểm này đã bị vượt qua, bởi ví dụ, các nhân vật trong ngụ ngôn, dụ ngôn, cổ tích là kí hiệu; nhân vật Thúy Kiều là một cái biểu đạt đa nghĩa, có thể biểu hiện phận đàn bà, có thể biểu hiện kẻ tài tình, lại vừa biểu hiện “làm người có thân”, tư tưởng tài mệnh tương đố. Đó không phải là khái quát đơn nghĩa theo kiểu phản ánh hiện thực. Điều này cho thấy các nhà lí thuyết mác xít không muốn nhìn nhận hình tượng là kí hiệu, vì không thừa nhận quan hệ hình tượng và ý nghĩa của nó có thể là võ đoán. Mặc dù có phần hạn chế như thế, nhưng từ giữa những năm 70 thế kỉ trước Hoàng Trinh là người đã có ý thức, có thể là người sớm nhất ở miền Bắc, giới thiệu một cách khá hệ thống một số khái niệm cơ bản của kí hiệu học cấu trúc vào Việt Nam. Ở miền Nam, Nguyễn Văn Trung 1963, Trần Thiện Đạo 1967 đã giới thiệu kí hiệu học từ những năm 60. Rất có thể Phan Ngọc đã tiếp cận phương pháp cấu trúc từ những năm 60, nhưng do gặp khó trong vụ Nhân văn Giai phẩm mà ông không dám để lộ phương pháp của mình. Việc giới thiệu của Hoàng Trinh có ý nghĩa quan trọng đối với khoa học nhân văn Việt Nam. Ai cũng biết ở Việt Nam người ta chỉ có tin người chứ không tin khoa học. Hoàng Trinh do là cán bộ tuyên huấn, cho nên được tin hơn khi ông bàn những chuyện khó nói. Sự ra đời các công trình kí hiệu học của Hoàng Trinh tạo thuận lợi cho việc truyền bá các học thuyết lí luận, mĩ học phương Tây vào Việt Nam như thi pháp, văn học so sánh, tiếp nhận văn học…Và biết đâu, chính tư tưởng kí hiệu học ấy đã tạo không khí để cho tạp chí Văn học tiếp nhận bài viết của tôi về thời gian nghệ thuật năm 1981, 1982. Hồi đó tôi ghé thăm ông, ông cho biết ông không chỉ đăng bài, mà còn đã giảng dạy kí hiệu học cho các bạn trẻ ở Viện. Ông cũng đã mời tôi đến trình bày hai buổi về thi pháp học cho các bạn trẻ của Viện. Nhưng khi ông đặt vấn đề “Nghiên cứu kí hiệu dưới ánh sáng của phản ánh luận của Mác Lenin và chủ nghĩa duy vật biện chứng để làm sáng tỏ hơn quy luật tạo nghĩa bên trong các hệ thống kí hiệu, trong đó có môn ngữ văn học”, “khai thác kí hiệu học theo quan điểm Mác Lenin”[4] thì ông dã làm khó cho người nghiên cứu, bởi vì phản ánh luận ngay từ đầu đã phản đối kí hiệu mà chỉ quan tâm vật tác động vào cảm giác để lại hình ảnh sao chép như thật, mà không chấp nhận bất cứ ước lệ nào, đừng nói tới kí hiệu, biểu trưng. Mà nghĩa chỉ có trong quan hệ chủ thể đối với đối tượng, đối tượng chỉ có nghĩa đối với chủ thể. Tạo nghĩa là nghĩa này gợi nghĩa kia, liên tưởng nghĩa này với nghĩa nọ, sợ rằng đó là hành vi chủ quan duy tâm siêu hình. Người ta có thể liên tưởng tới tương lai hay tới quá khứ, là những thứ không hiện hữu, mà đã không hiện hữu thì không tác động giác quan và không thể phản ánh được. Ông nêu một trong các vấn đề nghiên cứu là “Cái gọi là tính xã hội, tính ước lệ trong kí hiệu nằm ở chỗ nào? Vì sao ước lệ mà vẫn phản ánh được hiện thực, nghĩa là vẫn có giá trị hiện thực?”[5] Các câu hỏi đó không khó trả lời, bởi vấn đề chân lí của nhận thức và vấn đề kí hiệu để lưu giữ và truyền đạt thông tin là các vấn đề ở các bình diện khác nhau, nhưng không tách rời nhau. Song tham vọng xây dựng một kí hiệu học mác xít- lêninit có lẽ không dễ thực hiện. Vậy thi pháp học của Hoàng Trinh thì như thế nào? Là một người đọc sách Tây Hoàng Trinh hiểu thi pháp chính là lí luận văn học. Nhưng ông chỉ hiểu thi pháp học là lí thuyết về thơ, giống như R. Jakobson, lí thuyết về một thể loại theo nghĩa cổ xưa nhất, chứ không theo nghĩa rộng là thi pháp văn học nói chung. Theo ông, thi pháp thơ bao gồm bốn yếu tố. Một là trả lời câu hỏi thơ là gì. Hai là cho biết làm thế nào để sáng tạo ra thơ, cụ thể là tổ chức ngôn từ thế nào để nó trở thành thơ. Ba là nghiên cứu kết cấu của thơ. Kết cấu không gian, kết cấu thời gian. Nó là ngôi nhà của thơ. Bốn là âm vận của thơ[6]. Có thể nói đó là một quan niệm quá ư hạn hẹp và sơ sài. Ví dụ ông hiểu bất cứ ai có quan niệm hoặc cách hiểu về thơ đó đều là nhà thi pháp, thì là giản đơn quá và bình thường quá. Bảo một nhà thơ có mấy câu nói về thơ cũng là nhà thi pháp, hẳn nhà thơ kia cũng ngại. Để thể hiện ý tưởng từ kí hiệu học đến thi pháp học ông lần lượt trình ra hai vấn đề. Một là các bình diện của kí hiệu sau này dùng để hiểu thơ. Đó là khái niệm kí hiệu, tính đa nghĩa của từ và cách tạo nghĩa. Tính thơ và thông báo, hình thức và chất thể của kí hiệu, ngôn ngữ, lời, ngôn từ, từ, văn bản, các mã, mã thẩm mĩ. Trong mục cuối cùng tác giả trình bày các phép tu từ của thi ca. Phần thi pháp của tác giả là cách đọc thơ theo thi pháp học dựa vào lí thuyết kí hiệu học. Trong các chương này có nhiều tri thức và nhiều ví dụ bổ ích đối với những ai chịu khó đọc. Đang nói về thi pháp học như là lí thuyết về thơ với bốn nội dung như trên thì đến đây ông chuyển sang vấn đề đọc thơ. Đọc cũng là một vấn đề thi pháp học song không được bao hàm trong bốn vấn đề nêu trên, gây cảm giác hẩng hụt và ngỡ ngàng. Nhưng đi vào nội dung thì lại gặp đặc trưng của ngôn ngữ thơ, mà không phải là đọc. Ông trình bày sơ lược những vấn đề mới như nghĩa nội hàm, siêu ngôn ngữ, cũng khá bổ ích và cuối cùng là đọc thơ theo kí hiệu học. Sau phần Đọc thơ là đọc ca dao, đọc tục ngữ. Nhìn chung cách đọc của Hoàng Trinh là phân tích hình ảnh thơ theo sơ đồ kí hiệu học, CBĐ chuyển hoá thành CBĐ mới với CĐBĐ mới, cứ thế mà tăng tiến thêm, tạo thành nghĩa mới. Cách đọc của ông theo tôi có thể giúp cho các giáo viên ngữ văn có thể hình dung được sự tạo nghĩa trong khi tạo thành các câu thơ. Nói chung đó chưa phải là đọc tác phẩm theo kí hiệu học. Bởi kí hiệu học quan niệm rằng tác phẩm văn học tự kiến tạo mình thành một hệ thống kí hiệu có tính cá nhân, một ngôn ngữ cá thể. Người đọc phải kiến tạo lại ngôn ngữ nghệ thuật ấy thì mới thật sự hiểu được thông báo của tác giả. Cách đọc tục ngữ và ca dao nhằm chứng minh chất thơ của chúng là đi vào một cánh cửa đã mở sẵn. Còn chứng minh tục ngữ cũng có chất thơ, tuy hợp với quan niệm của R. Jakobson, nhưng lại không đúng với thực tế, vì tục ngữ không phải là thơ. Nhìn lại các công trình lí thuyết kí hiệu học và thi pháp học của Hoàng Trinh, ta thấy, muốn hiểu sâu được kí hiệu học thì phải hiểu về ngôn ngữ học. Kí hiệu học là một bộ môn đang phát triển. Thi pháp học cũng thế. Cho nên những cố gắng của giáo sư Hoàng Trinh là rất đáng trân trọng, bởi vì, đối với vấn đề có tính cấu trúc luận này trong xã hội ta đã từng có định kiến, nay giới thiệu như vậy sẽ có tác dụng khắc phục định kiến, để cho ai đi theo hướng này bớt bị dị nghị. Hai là trong các công trình của mình, Hoàng Trinh đã cố gắng giới thiệu những vấn đề, khái niệm cơ bản nhất của kí hiệu học, góp phần phổ biến nó. Ba là tác giả đã cố gắng viết cho dễ hiểu, bằng các ví dụ lấy từ thơ ca, ca dao, tục ngữ Việt Nam, và như thế sẽ giúp ích cho người mới học dễ làm quen. Ai đã làm học thuật ở Việt Nam dưới chế độ mới sẽ cảm thấy có nhiều khó khăn, nhất là những tư tưởng không hợp thời hoặc còn lạ lẫm. Nhà lí luận Hoàng Trinh từ một nhà tuyên huấn, một chiến sĩ đấu tranh chống học thuật tư sản, biết rõ mọi khó khăn, nhưng ông đã nhận ra những thiếu hụt của học thuật nước nhà và tìm cách bổ khuyết. Và ông đã cố gắng làm được những khởi động bước đầu rất đáng quý. Ông không phải là nhà kí hiệu học đầu tiên ở Việt Nam, càng chưa phải người cuối cùng, cho dù còn mới và sơ lược, ông vẫn vẫn là một nhà kí hiệu học Việt Nam có công lao đáng được ghi nhận, và công trình của ông vẫn có giá trị gợi mở. Hà Nội, 20 – 7- 2020 [1] Hoàng Trinh. Tuyển tập văn học, Nxb Hội nhà văn, Hà Nội, 1998, tr. 174 – 175. [2] Hoàng Trinh. Tldd, tr. 176. [3] Hoàng Trinh, Tldd, tr. 186 – 187. [4] Hoàng Trinh, Tldd, tr. 200. [5] Hoàng Trinh, Tldd, tr. 194. [6] Hoàng Trinh, Tldd, tr. 444.
Đỗ Ngọc Thống 1 Nhắc đến GS Trần Đình Sử, giới nghiên cứu văn học-văn hóa-nghệ thuật Việt Nam trong vòng 30-40 năm trở lại đây đều biết và khá nhất trí về việc khẳng định những đóng góp của ông ở lĩnh vực nghiên cứu văn học. Người ta không ngần ngại khi gọi ông là nhà thi pháp học. Tôi nghĩ đó là sự tôn vinh chính xác nhất về những cống hiến của GS Trần Đình Sử. Rõ ràng việc nghiên cứu thi pháp không phải chỉ có mình ông. Và ông cũng không phải là người đầu tiên ở Việt Nam bàn đến thi pháp. Nhưng liệu có bao nhiêu người nghiên cứu về thi pháp ở Việt Nam được gọi là nhà thi pháp học như Trần Đình Sử? Bền bỉ và thủy chung mấy chục năm qua với hướng nghiên cứu thi pháp, Trần Đình Sử đã có những đóng góp rất có ý nghĩa, ít nhất trên hai phương diện một là ông đã nghiên cứu rất “bài bản” về thi pháp học và giới thiệu, truyền bá nó một cách sáng sủa, có hệ thống cho độc giả Việt Nam; hai là ông đã vận dụng lý thuyết thi pháp ấy vào nghiên cứu thực tiễn văn học Việt Nam một cách rõ ràng, khá triệt để và có hiệu quả. Đánh giá sự nghiệp nghiên cứu của Trần Đình Sử cần nhìn nhận từ một cái nhìn tổng quát và khách quan. Trong bối cảnh nghiên cứu ở Việt Nam rõ ràng thi pháp học là hướng nghiên cứu nổi trội và có nhiều hiệu quả trong mấy chục năm qua. Để mở cánh cửa vào thế giới nghệ thuật của nhà văn, không ai hiểu thi pháp học là một chìa khóa vạn năng và duy nhất; nhưng quả là nó đã tạo ra một thời kỳ và đánh dấu sự đổi mới khá rõ nét trong nghiên cứu- phê bình văn học Việt Nam những năm từ cuối thể kỉ XX đến nay. Chủ soái của hướng nghiên cứu này không ai khác là Trần Đình Sử. Như cây đã hóa trầm trong ruột, như con tằm đã chín chỉ nhả tơ vàng; mười năm qua ông vẫn tiếp tục cho ra nhiều công trình, nhiều cuốn sách và các bài nghiên cứu, trong đó vẫn đầy ắp các thông tin, những tri thức cập nhật, mới mẻ và ngày càng toàn diện, sâu sắc. Có thể kể một số công trình tiểu biểu như Trên đường biên của lí luận văn học 2014; Tự sự học lí thuyết và ứng dụng chủ biên, 2017; Dẫn luận thí pháp văn học 2017; gần đây nhất là Cơ sở văn học so sánh 2020. Phân tích sự đóng góp từ các công trình nói riêng và cả sự nghiệp nghiên cứu đồ sộ của GS Trần Đình Sử nói chung, tôi nghĩ cần có nhiều chuyên gia, nhìn nhận, đánh giá một cách cẩn trọng, công phu; xem xét trên nhiều bình diện. Bởi một lẽ, những vấn đề nghiêu cứu mà ông nêu lên không đơn thuần chỉ là lí luận văn học, mà hết sức đa dạng, phong phú, bao gồm nhiều tri thức thuộc lĩnh vực khoa học xã hội – nhân văn lịch sử văn học, nghiên cứu-phê bình văn học, ngôn ngữ học, tâm lí học, văn hóa, giáo dục, lịch sử,… Việc đánh giá một cách công bằng sự nghiệp nghiên cứu của Trần Đình Sử đã và sẽ còn được nhiều người tiến hành. Bài viết này chỉ tập trung phân tích những đóng góp của ông trong lĩnh vực giáo dục văn học trong nhà trường mà trọng tâm là quan niệm đọc-hiểu và dạy đọc-hiểu văn bản ở nhà trường phổ thông qua chương trình CT và sách giáo khoa SGK Ngữ văn. 2 Tôi cho rằng, nhà trường phổ thông có một vai trò hết sức to lớn trong việc tạo ra một công chúng văn học có văn hóa, một lớp người đọc có trình độ, hiểu biết. Không nơi nào có điều kiện và cơ hội trang bị những tri thức cơ bản để hiểu văn học cho một công chúng đông đảo như nhà trường phổ thông. Hàng năm Việt Nam có tới gần 20 triệu học sinh phổ thông các cấp được cung cấp tri thức và rèn luyện kĩ năng văn học. Walt Whitman[1], từng nói“Để có những nhà thơ lớn, cần phải có những độc giả lớn”. Sự tương tác giữa bạn đọc, tác phẩm và nhà văn là một trong những yếu tố quyết định tạo nên tầm vóc và diện mạo của một nền văn học. Ai viết và viết cho ai? Ai đọc và đọc ai? Đó luôn là những câu hỏi của mọi thời. Làm thế nào để có được một công chúng văn học có trình độ? Câu trả lời sẽ hết sức phiến diện nếu như không thấy hết vai trò của giáo dục nhà trường; nếu không cần và không quan tâm đến việc dạy học văn trong nhà trường. Trong khi cả nhà văn và công chúng văn học đều trải qua và chịu ảnh hưởng của học vấn nhà trường. Nhiệm vụ trọng tâm của nhà trường là hình thành, bồi dưỡng, nâng cao trình độ “tiếp nhận” tác phẩm văn học cho HS. Chúng ta đều biết, một cậu bé 8 – 9 tuổi có thể làm thơ, thậm chí thơ có thể xuất hiện ở một anh chàng bán cháo cả đời không biết chữ như Viên Mai[2] đã từng kể lại. Sáng tạo thuộc năng khiếu “trời phú”; còn trình độ tiếp nhận, cách hiểu và cách định giá các giá trị văn học cần phải học hỏi và trang bị một vốn tri thức phổ thông hết sức cơ bản về văn hóa – văn học. Đấy chính là nhiệm vụ rất vinh quang và nặng nề của môn học Ngữ văn. Nhất là trong tình hình hiện nay, nhiều người không phân biệt được “mù chữ” và “mù văn”. Một người thoát nạn mù chữ nhưng vẫn mù văn như thường. Mù văn là đọc văn mà không hiểu, hoặc hiểu một cách sai lệch, thô thiển, nhảm nhí,… Nhìn nhận như thế mới thấy hết tầm quan trọng của công cuộc giáo dục văn hóa – văn học trong nhà trường. Và chỉ có thể hoàn thành sứ mạng vinh quang ấy khi công việc dạy-học văn trong nhà trường được tổ chức một cách khoa học và đúng hướng, mà trước hết là phải có một CT và những cuốn SGK Ngữ văn có chất lượng cộng với đội ngũ giáo viên có trình độ để biết đọc văn, dạy văn. Một trong các tiêu chí để đánh giá chất lượng của CT và SGK là tính cập nhật, hiện đại. Nghĩa là CT và SGK Ngữ văn Việt Nam phải phản ánh được những kết quả mới trong nghiên cứu văn học, phải cập nhật được trình độ và những định hướng lớn về CT, SGK môn học này của nhiều nước phát triển trên thế giới, nhằm đáp ứng yêu cầu hội nhập quốc tế. Không phải ngẫu nhiên mà gần đây nhiều nước tiên tiến đặt ra mục tiêu phải xây dựng một “Chương trình mang tầm thế giới” world-class curriculum, gần đây nhất là định hướng chuyển từ CT dựa vào nội dung sang CT dựa trên năng lực Curriculum based competency. Và cũng chỉ có thế các nước mới xích lại gần nhau trong việc đánh giá, xếp loại chất lượng và hiệu quả giáo dục bằng những chương trình đánh giá học sinh mang tầm quốc tế mà PISA[3] là một ví dụ tiêu biểu. Nhìn từ bối cảnh và yêu cầu quan trọng vừa nêu trên, công sức của GS Trần Đình Sử không chỉ được tính ở bậc Đại học với các giáo trình lí luận văn học mới, những bài giảng có chất lượng cao cho sinh viên, học viên cao học và nghiên cứu sinh… mà công sức của ông còn cần được xem xét và đánh giá ở lĩnh vực giáo dục văn học trong nhà trường phổ thông, nhất là vấn đề đổi mới CT và SGK Ngữ văn theo xu hướng hội nhập quốc tế. Trong lịch sử dạy học Ngữ văn ở nhà trường phổ thông, nếu chỉ tính từ mốc cải cách giáo dục năm 1980 đến nay 2020 thì đã có bốn lần thay đổi. Lần thứ nhất, thay đổi CT và SGK cấp Tiểu học 1981; Trung học cơ sở 1985 và Trung học phổ thông THPT năm 1989. Lần thứ hai thay đổi CT và SGK cấp THPT theo hướng phân ban thí điểm 1993. Lần thứ ba thay đổi CT và SGK Ngữ văn sau 2006 CT hiện hành và lần thứ 4 2018. Trong bốn lần ấy, có ba lần tạo nên sự thay đổi rất lớn về quan niệm dạy học Ngữ văn. Đó là lần thứ nhất, lần thứ ba và lần thứ tư đang diễn ra. Với lần thứ nhất từ quan niệm dạy văn nặng về tuyên truyền giáo dục chính trị, tư tưởng, do yêu cầu của các cuộc kháng chiến, chuyển sang quan niệm “giờ văn phải thực sự là giờ văn”, dạy văn trước hết là dạy các tác phẩm văn chương belles-lettres. Người khởi xướng và đề cao quan niệm này là GS. Nguyễn Đăng Mạnh. Từ quan niệm dạy văn trước đó đến quan niệm dạy văn vừa nêu là một thay đổi rất mạnh mẽ. CT Ngữ văn phân ban lần thứ 2 năm 1993 thực chất là tiếp nối tinh thần và quan niệm của CT Ngữ văn 1989. Với lần thay đổi thứ ba CT và SGK Ngữ văn 2006 tư tưởng nòng cốt của quan niệm dạy- học văn được xác định dạy văn trước hết là dạy đọc văn. Quan niệm này được hình thành từ CT và SGK Ngữ văn THCS với yêu cầu đọc hiểu văn bản mà người có công xây dựng là cố Đỗ Hữu Châu[4]. Sau đó tư tưởng này đã được tập thể các tác giả, đứng đầu là GS Nguyễn Khắc Phi, cụ thể hóa trong bộ sách Ngữ văn THCS. Tuy nhiên, phải đến lần làm CT Ngữ văn THPT năm 2002 thì quan niệm dạy văn trước hết là dạy đọc văn, hình thành và rèn luyện phương pháp, cách thức đọc-hiểu văn bản mới thực sự trở nên rõ nét và nhất quán. Người chủ trương và góp phần quan trọng trong việc khẳng định quan niệm này là Trần Đình Sử, trưởng tiểu ban xây dựng chương trình Ngữ văn THPT của Bộ GD&ĐT khi đó. Tôi có may mắn là người được tham gia xây dựng CT Ngữ văn của cả hai cấp cùng với GS Đỗ Hữu Châu cấp THCS năm 2000 và với GS Trần Đình Sử cấp THPT năm 2002. Chương trình Ngữ văn 2018 do tôi làm trưởng tiểu ban thực hiện cùng lúc 2 yêu cầu hết sức căn bản một là kế thừa tư tưởng, tinh thần dạy học ngữ văn theo hướng đọc hiểu văn bản và hai là chuyển từ hướng tiếp cận CT nội dung sang CT theo hướng hình thành và phát triển năng lực. Như đã nêu, tư tưởng dạy học Ngữ văn theo hướng đọc hiểu văn bản CT 2006 là tư tưởng do GS Trần Đình Sử đề ra. Khoảng 10 năm đầu thế kỉ 21, Đình Sử đã cùng chúng tôi lăn lộn, tìm tòi, suy nghĩ để xác lập và xây dựng một quan niệm dạy học văn mới bắt đầu từ CT, sau đó cụ thể ra thành SGK Ngữ văn. Không chỉ trong xây dựng CT mà ông đã cụ thể hóa tư tưởng ấy thành nhiều bài báo. Có thể kể một số bài quan trọng như “Đọc hiểu văn bản – một khâu đột phá trong nội dung và phương pháp dạy văn hiện nay” 2004[5]; “Con đường đổi mới cơ bản phương pháp dạy học Văn”,2009[6]; Văn bản văn học và đọc – hiểu văn bản 2012[7]; Từ giảng văn qua phân tích tác phẩm đến dạy học đọc hiểu văn bản văn học 2014[8]; … Có thể trong thời gian ấy, ông đã bỏ ra rất nhiều trí tuệ và sức lực nhằm thay đổi việc dạy học văn ở nhà trường phổ thông. Nhiều lần ông “lớn tiếng”với tôi “chỉ vì tớ nghe lời cậu xui dại mà mất đứt hàng chục năm trời vào chuyện CT và SGK”. Tôi hiểu nếu không dính vào chuyện này, thì ông sẽ có nhiều thời gian và sức lực để tập trung cho những công trình lớn mà ông đang ấp ủ, hình thành. Tôi đã chứng kiến nhiều lần ông vừa đau mắt, vừa bị bệnh hen phế quản hành hạ, vẫn phải đến “trại tập trung”[9] để hoàn thiện bản thảo đặng kịp ra sách theo tiến độ… Không ít lần ông tỏ ra chán ngán, mệt mỏi vì công sức bỏ ra rất nhiều, thù lao nhuận bút thì chẳng được bao nhiêu, trong khi nhiều người chưa chịu tìm hiểu đến nơi đến chốn đã lớn tiếng phê phán và chỉ biết phê phán, không một lời động viên khích lệ. Tính ông rất nóng, nhiều khi tung ra hàng loạt những lời lẽ rất “nghịch nhĩ”, nhất là đối với các vị chức sắc, lãnh đạo. Những lúc ấy tôi nghĩ ông cứ như cơn cuồng phong muốn cuốn phăng đi và tung hê hết tất cả những gì mà ông cho là vô lí và ngang trái, bất công… Nhưng rồi, cơn nóng giận cũng tan đi rất nhanh, tôi lại thấy một Trần Đình Sử nhẹ nhàng, cởi mở với những câu chuyện thông minh, dí dỏm, pha chút châm biếm hài hước cùng những trận cười dài như chưa bao giờ vui đến thế. Những năm gần đây, sức khỏe ông xuống nhiều, hai, ba lần cấp cứu, khi thì bệnh tim, huyết áp, khi thì bệnh thận… Hệ quả này chắc chắn có một phần vì ông đã mất rất nhiều công sức cho công cuộc xây dựng CT và SGK vừa qua. Trong công cuộc đó, khó nhất là việc xác lập một tư tưởng chỉ đạo, một quan niệm mới dạy văn trước hết là dạy cách đọc văn, đọc-hiểu văn bản thay cho quan niệm giảng văn, phân tích tác phẩm đã ngự trị quá lâu trong nhà trường phổ thông. Bây giờ thì mọi chuyện dường như đã khá rõ, nhưng những ngày đầu cách đây 20 năm đó là cả một thách thức đầy gian khó. Một số người sau này nói về đọc-hiểu văn bản cứ như mình là Cô-lôm-bô phát hiện ra châu Mỹ, vì họ không tìm hiểu, không biết chi tiết bối cảnh như tôi vừa nêu. Một số khác, cho đến bây giờ, vẫn mơ hồ chưa rõ, vẫn còn băn khoăn thắc mắc tại sao lại gọi là đọc-hiểu văn bản? Sao không gọi là giờ giảng văn mà lại là giờ đọc-hiểu? . 3 Bản chất và ý nghĩa của quan niệm dạy văn trước hết là dạy cách đọc hiểu văn bản là gì? Mối liên hệ và sự nhất quán trong quan niệm dạy học văn ở nhà trường phổ thông với lý luận thi pháp của Trần Đình Sử ra sao? Phân tích điều đó cũng có nghĩa là chỉ ra những đóng góp của GS Trần Đình Sử trong lĩnh vực giáo dục văn học ở nhà trường phổ thông. Hiện nay quan niệm dạy văn là dạy đọc văn, giờ văn là giờ hướng dẫn HS đọc hiểu văn bản, mặc dù còn nhiều điều phải tiếp tục nghiên cứu hoàn thiện, nhất là phương pháp dạy học cụ thể. Nhưng có thể khẳng định phương hướng dạy văn này là đúng đắn và đã cập nhật được với xu thế dạy học hiện đại của các nước có nền giáo dục phát triển. Nhận xét này có thể kiểm chứng nếu so sánh với chương trình môn học này của nhiều quốc gia và nhất là với yêu cầu về đánh giá kết quả học tập của nhiều tổ chức quốc tế, từ UNESCO đến các Viện nghiên cứu CT và những trung tâm đánh giá lớn khác, PISA là một ví dụ tiêu biểu. Một trong ba lĩnh vực mà PISA quan tâm kiểm tra- đánh giá là năng lực đọc hiểu Reading Literacy. Lý giải tầm quan trọng của khả năng này, OECD tuyên bố “Đọc-hiểu không chỉ còn là một yêu cầu của suốt thời kì tuổi thơ trong nhà trường phổ thông, mà nó còn trở thành một nhân tố quan trọng trong việc xây dựng, mở rộng những kiến thức, kĩ năng và chiến lược của mỗi cá nhân trong suốt cuộc đời khi họ tham gia vào các hoạt động ở những tình huống khác nhau, trong mối quan hệ với người xung quanh, cũng như trong cả cộng đồng rộng lớn”[10]. Quan niệm này của OECD chính là xuất phát từ quan niệm của UNESCO về Literacy[11] “Đó là khả năng nhận biết, thấu hiểu, giải thích, sáng tạo, trao đổi, tính toán và sử dụng những tài liệu viết hoặc in ấn trong những bối cảnh khác nhau. Literacy đòi hỏi sự học hỏi liên tục nhằm giúp một cá nhân đạt được mục đích của mình, phát triển kiến thức, tiềm năng và tham gia một cách toàn diện, tích cực trong xã hội rộng lớn”[12] Tôi phải dẫn ra hơi dài dòng quan niệm của UNESCO và OECD về đọc hiểu để phần nào thấy được xu thế này trên thế giới hiện nay. Cũng từ đó thấy được sự cập nhật và phù hợp của quan niệm dạy đọc hiểu văn bản mà chúng tôi vừa nêu trên. Quan niệm dạy đọc hiểu trong nhà trường hết sức gần gũi với quan niệm trong nghiên cứu lý luận, phê bình văn học. Nếu hiểu lý luận văn học cung cấp công cụ cho việc đọc; viết phê bình văn học thực chất là trình bày kết quả của một cách đọc; lịch sử lý luận, phê bình là lịch sử của các cách đọc, cách tiếp nhận, thưởng thức văn bản khác nhau bởi các công cụ khác nhau; nếu muốn tạo ra một công chúng có văn hóa đọc, lớp công chúng được giáo dục về văn hóa-văn chương thì nhiệm vụ trực tiếp quan trọng nhất của việc dạy và học văn trong nhà trường là trang bị cho HS cách đọc văn, cách tiếp nhận văn bản. Dạy học đọc hiểu tác phẩm văn chương theo tinh thần này được hiểu một cách khá toàn diện. “Đó là một quá trình bao gồm việc tiếp xúc với văn bản, thông hiểu cả nghĩa đen, nghĩa bóng, nghĩa hàm ẩn cũng như thấy được vai trò, tác dụng của các hình thức, biện pháp nghệ thuật ngôn từ, các thông điệp tư tưởng, tình cảm, thái độ của người viết và cả các giá trị tự thân của hình tượng nghệ thuật. Đọc hiểu là hoạt động duy nhất để học sinh tiếp xúc trực tiếp với các giá trị văn học. Đọc hiểu bắt đầu từ đọc chữ, đọc câu, hiểu nghĩa của từ và sắc thái biểu cảm, hiểu nghĩa của hình thức câu, hiểu mạch văn, bố cục và nắm được ý chính, cũng như chủ đề của tác phẩm. Lý giải những đặc sắc về nghệ thuật và ý nghĩa xã hội nhân văn của tác phẩm trong ngữ cảnh của nó. Trong quá trình học đọc, HS sẽ biết cách đọc để tích luỹ kiến thức, đọc để lý giải, đọc để đánh giá và đọc sáng tạo, phát hiện. HS sẽ học cách trích câu hay, trích chi tiết, trích ý, học cách thuyết minh, thuật lại nội dung văn bản đã học”[13]. Hệ thống văn bản được lựa chọn nhằm thực hiện việc đào tạo năng lực đọc hiểu, qua đó vừa cung cấp tri thức văn học, văn hóa dân tộc, vừa giáo dục tư tưởng, tình cảm, vừa rèn luyện kỹ năng đọc, phương pháp đọc… để sau khi ra trường, HS có thể đọc-hiểu nhiều loại văn bản thông dụng trong đời sống. Những nét chính về quan niệm đọc hiểu văn bản vừa nêu trên được ghi trong CT Ngữ văn THPT của Bộ GD&ĐT năm 2002, nhưng thực chất là của GS Trần Đình Sử, người chịu trách nhiệm chính trong việc khởi thảo CT Ngữ văn THPT hiện hành. Rõ ràng quan niệm này là sự triển khai, tiếp nối và nhất quán với lý luận thi pháp mà ông hiểu rất tường tận. Nhiệm vụ của thi pháp học hiện đại là gì, nếu không phải là nghiên cứu quy luật và quá trình tiếp nhận văn bản của người đọc, khẳng định vai trò cuả người đọc trong việc giải nghĩa và tạo nghĩa của văn bản- tác phẩm? Trong dạy học theo tinh thần đọc hiểu, hai đối tượng cần chú ý nhất cũng là văn bản và người đọc. Vai trò của người thầy thể hiện ở năng lực tổ chức cho HS đọc hiểu văn bản, từ đó hình thành cho họ cách đọc hiểu một văn bản, nhất là văn bản văn học. Tồn tại lớn nhất trong dạy học Ngữ văn hiện nay là GV vẫn cảm thụ thay, đọc thay văn bản, nói hộ cái hay của tác phẩm thay cho HS. Có lẽ vì thế, trong một bài báo Trần Đình Sử đã mạnh dạn khẳng định muốn đổi mới căn bản phương pháp dạy học văn, không có con đường nào khác là phải trở về với văn bản văn học. Cần thay đổi kiểu dạy học lấy thế bản thay cho văn bản. Thế bản ở đây gồm bài soạn của thầy và các tài liệu tham khảo đủ loại, đủ kiểu như hiện nay. Ông viết “Vai trò của thầy là hướng dẫn, gợi mở, tránh nhầm lẫn cho HS, chủ yếu là dạy về phương pháp đọc chứ không phải đọc hộ, biến HS thành thính giả thụ động của mình … Giáo án của thầy chủ yếu phải là giáo án về phương pháp đọc cho học sinh. Cái nhầm lớn nhất của giáo án hiện nay chủ yếu là giáo án nội dung dùng cho thầy, chứ không phải là giáo án để dạy phương pháp đọc cho HS”[14]. Dạy học Ngữ văn theo yêu cầu đọc hiểu văn bản, thực chất là hình thành cho HS toàn bộ quá trình tiếp nhận, giải mã văn bản kể cả hiểu và cảm thụ, giúp HS cách đọc văn, phương pháp đọc hiểu để dần dần các em có thể tự đọc được văn, hiểu tác phẩm văn học một cách khoa học, đúng đắn. Muốn thế học sinh phải được trang bị trên hai phương diện những kiến thức để đọc văn và phương pháp đọc văn. Những kiến thức và phương pháp này chỉ có thể có được qua việc thực hành trong quá trình đọc văn thông qua các văn bản tác phẩm cụ thể, tiêu biểu cho các thể loại ở từng giai đoạn lịch sử văn học. Tất nhiên thông qua hệ thống văn bản tác phẩm tiêu biểu, CT cung cấp và hình thành cho HS những hiểu biết sơ giản về lịch sử văn học, lý luận văn học, tác gia văn học, nhưng đối tượng chính vẫn là văn bản- tác phẩm. Để dạy và học đọc văn không chỉ dựa vào các kiến thức lịch sử và lí luận văn học mà còn phải trang bị cho HS các kiến thức Việt ngữ với tất cả các đơn vị và cấp độ như ngữ âm, từ vựng, ngữ pháp, văn bản. Chính những đơn vị ngôn ngữ này là chất liệu tạo nên thế giới hình tượng của tác phẩm văn học. Do đó việc phân tích, cảm nhận tác phẩm văn học không thể không dựa vào chúng. Hướng dẫn cách đọc hiểu cho HS không thể thoát li văn bản và phải bắt đầu bằng việc chú ý khai thác các yếu tố ngôn từ. Đây chính là hướng biên soạn sách giáo khoa và cách dạy văn học của nhiều nước, Cộng hoà Pháp là một ví dụ. Để đọc hiểu các tác phẩm văn học Pháp qua các thế kỷ, nhà trường Pháp rất chú ý cung cấp các công cụ ngôn ngữ làm cơ sở cho việc đọc hiểu. Các câu hỏi dùng đọc hiểu văn bản có nhiều loại khác nhau nhưng bài nào cũng có câu hỏi về phương pháp đọc hiểu. Ngoài ra còn có hẳn những cuốn sách giới thiệu về phương pháp đọc hiểu văn bản lecture methodique[15]. Sách giáo khoa biên soạn theo tinh thần trên là sách phục vụ cho mục đích dạy văn thực chất là dạy cách đọc hiểu, cách giải mã văn bản. Trong đó nhấn mạnh việc coi trọng văn bản với tất cả các biểu hiện cụ thể của hình thức ngôn từ nghệ thuật; hình thành và rèn luyện kỹ năng phân tích văn học trên cơ sở phân tích ngôn ngữ; từ việc nghiên cứu các văn bản văn học để đạt tới những suy nghĩ sâu sắc về các cấu trúc văn học và ngôn ngữ… Những tư tưởng và yêu cầu đọc hiểu vừa nêu trên có thể tìm thấy trong quan niệm của Trần Đình Sử. Chẳng hạn khi ông khẳng định vai trò quan trọng của văn bản đối với người đọc “Văn bản là tồn tại duy nhất của tác phẩm của nhà văn, là yếu tố mang chở toàn bộ nội dung, ý nghĩa, tình cảm, mĩ cảm mà nhà văn gửi gắm; người đọc chỉ có thể tự mình đọc để khám phá và thưởng thức, không có con đường nào khác. Không ai có thể thưởng thức thay người đọc”[16]. Để đọc hiểu văn bản đó cần “phải bắt đầu từ kênh chữ, từ đọc hiểu từ ngữ, câu văn, cách biểu đạt mà suy ra nội hàm hình tượng và ý nghĩa, không nên bắt đầu từ kênh hình tượng một cách tiên nghiệm … Đọc văn trước hết phải đọc để biến các kí hiệu chữ thành nghĩa, thành thế giới hình tượng trên cơ sở đó mới cảm thụ thế giới nghệ thuật bằng ngôn từ… Đọc không hiểu thì không có gì để cảm thụ cả.”[17] Sau bài báo của Trần Đình Sử đăng trên Văn nghệ như đã dẫn, xuất hiện nhiều ý kiến trao đi đổi lại khá sôi nổi. Điều đó chứng tỏ luận điểm ông nêu lên đã “đụng chạm”đến cái chốt của vấn đề, khiến nhiều người phải quan tâm. Tôi thấy chẳng có gì mẫu thuẫn giữa quan niệm “phải trở về với văn bản văn học” của Trần Đình Sử với quan niệm “coi HS là bạn đọc sáng tạo”. Trở về với văn bản văn học chính là coi trọng và tôn trọng người học. Đó là cách phát huy tốt nhất tính tích cực chủ động của HS. Chính vì coi HS là bạn đọc sáng tạo nên mới phải trở về với văn bản văn học. Vì HS chỉ là bạn đọc sáng tạo khi tiếp xúc trực tiếp với văn bản của nhà văn chứ không phải sáng tạo trên văn bản của người khác những văn bản mà Trần Đình Sử gọi là thế bản… Quan niệm phải trở về với văn bản, phải bắt đầu từ các yếu tố của văn bản thực ra không phải hoàn toàn mới. Trong bối cảnh dạy học Ngữ văn hiện nay, ông nhấn mạnh điều đó, chỉ là nhằm điều chỉnh lại những quan niệm lệch lạc khi hướng dẫn HS đọc hiểu tác phẩm văn học. Còn bản thân quan niệm coi trọng văn bản, từ lâu đã là một trong những nguyên tắc cơ bản của tiếp nhận văn học. Và vì vậy nó phải là nền tảng quan trọng nhất để dạy HS đọc hiểu văn bản nói chung và văn bản văn học nói riêng. Điều đó càng quan trọng hơn khi muốn hướng tới mục tiêu hình thành cho HS cách đọc văn, phương pháp đọc hiểu văn bản, nếu chúng ta muốn cập nhật và hội nhập với xu hướng quốc tế về đọc hiểu. Đó cũng là mục tiêu mà UNESCO kêu gọi các nước hướng tới nhằm giúp HS có được công cụ để đọc và “học suốt đời”. Có người cho rằng Trần Đình Sử không phải là “dân” phương pháp và tỏ vẻ nghi ngờ ý kiến của ông. Trước những phát biểu như thế, lúc đầu tôi thấy buồn cười. Nhưng sau nghĩ lại, chỉ thấy buồn… Rất buồn ! Đó là chuyện của hơn 10 năm trước. 10 năm gần đây người ta càng ngày càng thấy quan niệm đọc hiểu văn bản của ông hoàn toàn đúng. 10 năm gần đây ông vẫn là người đồng hành với những đổi mới về dạy học văn trong nhà trường; vẫn là người xứng đáng nhất trong cương vị Chủ tịch các hội đồng thẩm định Chương trình và sách giáo khoa Ngữ văn mới 2018. Trong các nhà nghiên cứu văn học và ngôn ngữ mà tôi biết, rất hiếm người theo sát và cập nhật được những vấn đề dạy và học Ngữ văn trong nhà trường như ông…Và cũng ít người có nhiều đóng góp có ý nghĩa cho việc thay đổi dạy học Ngữ văn trong nhà trường như ông. Hà Nội, 2010-2020 [1] Walt Whitman 1819-1892, nhà thơ Mỹ, tác giả của tập thơ Lá cỏ [2] Viên Mai, tự Tử Tài Zicai; tk. Tuỳ Viên Suiyuan; 1716 – 1798, nhà thơ và nhà lí luận phê bình thơ ca Trung Quốc, tác giả cuốn Tuỳ Viên thi thoại. [3] Programme for International Student Assessment Chương trình đánh giá HS quốc tế- do OECD khởi xướng [4] Đỗ Hữu Châu 1932-2006- Nhà ngôn ngữ học, Trưởng tiểu ban xây dựng CT Ngữ văn THCS 2000 của Bộ GD&ĐT. [5] Tạp chí Giáo dục, số 102 [6] Báo Văn nghệ số 10, 2009 [7] Tài liệu chuyên văn, tập 1, Đỗ Ngọc Thống chủ biên, NXB Giáo dục Việt Nam, 2012 [8] Kỉ yếu Hội thảo khoa học “Dạy học Ngữ văn ở trường THPT theo chương trình và SGK mới”. NXB Nghệ An, [9] Trại viết do NXB Giáo dục tổ chức để các tác giả biên soạn và hoàn thiện bản thảo SGK. [10] The PISA 2003 – Assessment Framework Reading – OECD [11] Khái niệm quốc tế, chỉ khả năng cơ bản về học vấn của một người do nhà trường cung cấp. Bên cạnh khả năng đọc hiểu Reading literacy còn có khả năng làm toán Mathematic literacy, khả năng khoa học tự nhiên Science literacy, khả năng giải quyết vấn đề Solving literacy [12] UNESCO Education Sector, The Plurality of Literacy and its implications for Policies and Programs 2003 … images [13] Chương trình Ngữ văn THPT– Bộ GD và ĐT 2002 [14] Trần Đình Sử Con đường đổi mới cơ bản phương pháp dạy – học văn – Văn nghệ số 10, 7-3-2009 [15] Lettres Textes- Methodes- Histoire littéraire 2de et 1re – Nathan, 2de Colection des textes à L’oeuvre- Hachette 2004. [16] Trần Đình Sử- bài đã dẫn [17] Trần Đình Sử – Đổi mới phương pháp dạy học môn Ngữ văn- Hướng dẫn thực hiện CT, SGK Ngữ văn lớp 12- NXB GD 2008
Lê Huy Bắc Tên tuổi Giáo sư Trần Đình Sử gắn với công cuộc đổi mới lí luận, phê bình văn học Việt Nam đầu những năm 80. Trong lúc phương pháp nghiên cứu, phê bình xã hội học đã quá quen thuộc và cơ hồ không còn đem lại khả năng khám phá cái mới cho nghiên cứu nữa thì Giáo sư Trần Đình Sử đã mang lại một cách tiếp cận mới, khám phá một phương diện mới của văn học mà lâu nay ít người đề cập tới, đó là thi pháp học. Kể từ thập niên 1980, Giáo sư Trần Đình Sử là nhà phê bình lí luận số một của Việt Nam cho đến nay. Sự nghiệp nghiên cứu giảng dạy của ông được biết đến với hai lĩnh vực, thi pháp học và tự sự học. Nhờ ông mà địa vị khoa Ngữ văn và trường Đại học Sư phạm Hà Nội không ngừng được nâng cao trong hệ thống các trường đại học ở Việt Nam. Nhờ ông mà đội ngũ các nhà nghiên cứu giảng dạy nhiều thế hệ có được tiếng nói mới trong tiếp cận đối tượng và truyền bá nó cho người đọc, người nghe. Có thể nói, ông là người góp phần quan trọng bậc nhất trong việc tạo nên một đội ngũ những “người đọc mới”, những người “sáng tác mới” và những “người giảng dạy văn chương mới” trong thời đại mới của nước nhà. Trước đó, nền lí luận ở Việt Nam chủ yếu được đặt trên nguyên lí xã hội học. Đành rằng phê bình xã hội học thì chẳng có gì xấu hay sai trái, những vì quá nhấn mạnh đến các thao tác đối chiếu với cuộc sống theo kiểu Việt Nam nên, hướng đi này dẫn đến những kết luận khiên cưỡng, khiến người đọc đánh mất đi cái hay, cái độc đáo của sáng tạo văn chương vốn là ngôn ngữ đặc thù của trí tưởng tượng tuân theo quy luật của cái đẹp. Làn sóng “phê bình mới” do ông khởi xướng đã nhanh chóng lan rộng trong giới phê bình kinh viện. Tên tuổi Giáo sư Trần Đình Sử xuất hiện trong hàng vạn công trình nghiên cứu từ cấp cử nhân đến thạc sĩ, tiến sĩ văn học trên khắp cả nước. Chừng đó đủ để khẳng định tầm quan trọng của thi pháp học đối với giới nghiên cứu và vị trí không thể thiếu của ông đối với nền lí luận nước nhà, chí ít trong suốt ba thập kỉ qua. Khoa Ngữ văn trường Đại học Sư phạm Hà Nội tự hào vì Giáo sư Trần Đình Sử từng đảm nhiệm cương vị chủ nhiệm khoa từ 1990 đến 1995 và chủ nhiệm bộ môn lí luận văn học từ 2000 đến 2004. Giáo sư Trần Đình Sử sinh ngày 10 tháng 8 năm 1940 tại Huế, quê gốc Quảng Điền Thừa Thiên – Huế, trong một gia đình trí thức. Ông học ngành Trung văn tại Đại học Sư phạm Hà Nội 1959 – 1961, tốt nghiệp thủ khoa, được giữ lại làm giảng viên tiếng Trung tại trường. Với lợi thế về ngoại ngữ, năm 1962 khi được cử sang học tại Đại học Tổng hợp Nam Khai, Thiên Tân, Trung Quốc, ông theo học ngành ngữ văn. Năm 1966, ông về nước, được phân công công tác tại khoa Ngữ văn, Đại học Sư phạm Vinh. Ông dạy ở bộ môn lí luận văn học tại đó suốt mười năm. Những năm tháng này ghi nhận nỗ lực không ngừng của ông trong nghiên cứu và giảng dạy Phong cách cơ bản của thơ Tố Hữu, Đặc trưng hình tượng nghệ thuật trong tính chỉnh thể.. Năm 1976, ông được cử đi Liên Xô cũ làm nghiên cứu sinh tại Đại học Tổng hợp Kiev nay thuộc Ukraina. Tại đây, ông bắt đầu tiếp xúc với trường phái Chủ nghĩa hình thức Nga, đặc biệt là các tác phẩm lí luận phê bình của Mikhail Bakhtin 1895–1975. Lúc này, tên tuổi của nhà phê bình lỗi lạc Nga đã vang dậy toàn cầu. Trần Đình Sử quyết tâm truyền bá tư tường của Bakhtin vào nghiên cứu văn học ở Việt Nam. Năm 1980, ông bảo vệ thành công luận án Phó tiến sĩ nay được gọi là tiến sĩ về đề tài Thời gian như là yếu tố của chỉnh thể hình tượng nghệ thuật. Năm 1981, ông về nước, công tác tại khoa Ngữ văn, Đại học Sư phạm Hà Nội. Bắt đầu từ đây, khái niệm “Thi pháp học” xuất hiện rộng rãi ở Việt Nam với những nội hàm chính “Thi pháp học là khoa học nghiên cứu hình thức mang tính quan niệm” và “Thi pháp học chính là khám phá các giá trị văn hóa của nghệ thuật, chứ không phải đi giải mã nội dung”. Có sự chuyển biến trong nội hàm khái niệm từ nghiên cứu mã thẩm mĩ hình thức của văn chương sang mã văn hóa của văn chương. Nếu ai quan tâm đến khái niệm này thì sẽ thấy sự sáng tạo của riêng Trần Đình Sử. Ông muốn bao quát nhiều vấn đề nghiên cứu văn học trong khái niệm và nỗ lực mở rộng thi pháp học trong phạm vi có thể. Trong khi đó, trên thế giới, chủ yếu người ta tập trung giải mã nội dung của hình thức mà thôi. Chẳng hạn như ở Hoa Kỳ, thi pháp học của Bakhtin chỉ được tập trung ở bản chất đối thoại của lời văn. Vậy nên, có thể nói, thi pháp học được dùng trong nghiên cứu văn học ở Việt Nam là “thi pháp học Trần Đình Sử”. Đây là một đóng góp lớn lao mà không phải nhà nghiên cứu nào cũng có thể đạt được. Vấn đề ở đây không chỉ là “vận dụng” mà còn là “sáng tạo” cho phù hợp với văn hóa và tiếp nhận bản địa. Thi pháp học nhấn mạnh đến cái tôi sáng tạo của chủ thể. Cái tôi đó được định hướng bởi một “hệ hình tư duy” và nó tác động lên tất cả các cảm quan nghệ thuật về con người, chi phối cách lựa chọn ngôn từ, chi tiết trong việc xây dựng nên thế giới nghệ thuật riêng của nghệ sĩ… Lý thuyết táo bạo đó được Trần Đình Sử thực hiện trong những công trình đầu tiên là Thời gian nghệ thuật và cảm quan hiện thực của Nguyễn Du trong “Truyện Kiều” 1981, Cái nhìn nghệ thuật của Nguyễn Du trong “Truyện Kiều” 1983 và Thi pháp thơ Tố Hữu 1987… Những công trình này đề xuất cái nhìn hoàn toàn mới so với cách các nhà nghiên cứu trước đó khai thác tác phẩm và chúng mở đầu cho nhiều thập kỉ tiếp theo nghiên cứu văn học dưới cái nhìn thi pháp ở Việt Nam. Từ 1987 đến 1989, ông quay lại Liên Xô làm thực tập sinh. Năm 1990, ông được phong Phó giáo sư. Năm 1996, ông được phong Giáo sư. Sự nghiệp nghiên cứu của Giáo sư Trần Đình Sử luôn song hành với giảng dạy. Ông là một trong những giáo viên có thâm niên cao nhất trong đội ngũ các nhà sư phạm ở Việt Nam. Khởi đầu sự nghiệp giáo dục vào năm 1961, Giáo sư Trần Đình Sử có đến 47 năm chính thức đứng trên bục giảng về hưu vào năm 2008, con số này còn kéo dài khi hiện tại ông vẫn tiếp tục giảng cho các đối tượng thạc sĩ và tiến sĩ, đào tạo hàng vạn cử nhân, trên 50 thạc sĩ và 23 tiến sĩ. Nhiều người trong số tiến sĩ này hiện đang giữ những vị trí quan trọng trong hệ thống giáo dục và được phong hàm phó giáo sư, hứa hẹn là những nhà khoa học có uy tín trong đội ngũ trí thức tương lai của nước nhà. Nhận thấy những hạn chế nhất định của thi pháp học, sang thế kỉ hai mốt, Giáo sư Trần Đình Sử tập trung nghiên cứu tự sự học. Ông chủ trì hai hội nghị về tự sự học tổ chức tại trường Đại học Sư phạm Hà Nội và cho xuất bản hai cuốn sách có giá trị về tự sự học ở Việt Nam. Suốt đời mình, Giáo sư Trần Đình Sử đã viết hơn 200 bài báo, viết chung và riêng trên 100 đầu sách. Trong số đó, những công trình tiêu biểu nhất có thể kể là Thi pháp thơ Tố Hữu 1987, Thi pháp văn học trung đại Việt Nam 1998, Thi pháp Truyện Kiều 2002, Dẫn luận thi pháp học 2004… Năm 2004, nhà xuất bản Giáo dục tiến hành làm Tuyển tập Trần Đình Sử 2 tập với số trang gần 2000 trang. Ngoài viết sách nghiên cứu, Giáo sư Trần Đình Sử còn tham gia dịch nhiều tác phẩm nghiên cứu, phê bình từ hai thứ tiếng Nga và Trung. Tiêu biểu Dẫn luận nghiên cứu văn học do G. N. Pospelov chủ biên đồng dịch giả với Lại Nguyên Ân, Lê Ngọc Trà, Nguyễn Nghĩa Trọng, Nxb Giáo dục, 1985, Những vấn đề thi pháp Dostoievski của M. Bakhtin đồng dịch giả với Lại Nguyên Ân, Vương Trí Nhàn, Nxb Giáo dục, 1993, Tư tưởng văn học cổ Trung Quốc của I. N. Lisevich Nxb Giáo dục, 1997, Nghệ thuật ngôn ngữ thơ Đường của Cao Hữu Công và Mai Tổ Lân Nxb Văn học, 2000… Với những đóng góp trên, năm 1977 Giáo sư Trần Đình Sử được trao tặng Giải thưởng Lí luận Phê bình của Hội Nhà văn Việt Nam cho tác phẩm Lí luận và phê bình văn học 1976, tiếp đó là giải thưởng Nhà nước năm 2000 cho cụm công trình về thi pháp học. Là nhà giáo mẫu mực, Giáo sư Trần Đình Sử nỗ lực rất nhiều trong cải cách giáo dục. Trước hết là hệ thống sách lí luận được sử dụng rộng rãi trong cả nước. Đó là bộ giáo trình Lí luận văn học đồng chủ biên với Phương Lựu 3 tập, xuất bản lần đầu vào năm 1986. Tiếp đó là bộ Giáo trình lí luận văn học dánh cho hệ cao đẳng, 2 tập, 2003–2004. Chưa dừng lại ở các cấp học cao, Giáo sư Trần Đình Sử còn tham gia chủ biên bộ sách giáo khoa Ngữ văn cấp Trung học cơ sở, lớp 6,7,8,9. Ông phụ trách phần tập làm văn. Tư tưởng được ông đề xuất mang tính cách mạng đối với mảng dạy học này “Dạy văn là dạy cách đọc văn và làm văn”. Tư tưởng này có mối quan hệ rất biện chứng với cách nghiên cứu thi pháp học cung cấp chìa khóa để người học đi vào giải mã văn bản bằng chính cảm nhận và tri thức của chính mình. Đây là lối giáo dục đúng đắn, không chỉ cho việc học văn, mà quan trọng hơn là cho việc hình thành nhân cách con người. Phát huy năng lực tự thân là cách tốt nhất để hình thành nên những con người đúng nghĩa, biết nhận thức đúng sai và tranh đấu cho những mục tiêu tốt đẹp hơn cho sự sống trên thế gian. Tư tưởng này sau đó được Giáo sư Trần Đình Sử quán triệt trong cải cách sách giáo khoa bậc Trung học phổ thông giai đoạn 2002–2008 khi ông được mời làm tổng chủ biên bộ sách Ngữ văn lớp10, 11, 12, về sau bộ sách được phân thành hai cơ bản và nâng cao, nhưng tư tưởng cải cách ban đầu là của Giáo sư Trần Đình Sử. Hành trình cả đời của Giáo sư Trần Đình Sử là sáng tạo không ngừng. Không chỉ dừng lại ở phương diện tư tưởng, ông còn rất thành công ở chỗ chuyển tải, vận dụng những tư tưởng đó vào từng trường hợp cụ thể. Những bài nghiên cứu của ông về Tiếng thu Lưu Trong Lư, Tràng giang Huy Cận… là những áng văn mẫu mực trong tiếp cận tác phẩm. Đây chính là điều mà rất hiếm nhà lí luận nào ở Việt Nam bằng ông. Lối viết văn nghiên cứu của ông đạt đến chuẩn mực cao, là khuôn mẫu cho nhiều thế hệ nghiên cứu gia bắt chước, học hỏi. Đến nay, dù đã nghỉ hưu nhưng Giáo sư Trần Đình Sử vẫn miệt mài đọc, viết và hướng dẫn thạc sĩ, nghiên cứu sinh. Sự nghiệp của ông vẫn vươn dài phía trước mà chưa có dấu hiệu mệt mỏi. Cho dù về sau, “thi pháp học Trần Đình Sử” sẽ nhường chỗ cho các cách nghiên cứu khác, nhưng vị trí mở đầu, tâm huyết của một nhà khoa học, nghị lực và tấm lòng của một nhà giáo từ ông sẽ mãi vững bền trong lòng những con người chân chính yêu văn chương, yêu lẽ phải và mong muốn cuộc sống con người ngày một tốt đẹp hơn.
Giáo sư Đinh Gia Khánh, người tiêu biểu cho nền học thuật của chế độ mới Trần Đình Sử Sau khi thế hệ các giáo sư thời trước vì các lí do chính trị rời khỏi các giảng đường đại học, nhiệm vụ xây dựng nền học thuật đại mới đặt trên vai một loạt các nhà khoa học đầy tài năng. Đó là các nhà sử học như Đinh Xuân Lâm, Phan Huy Lê, Trần Quốc Vượng, Trần Văn Tấn…, các nhà ngôn ngữ học như Nguyễn Tài Cẩn, Hoàng Tuệ, Nguyễn Kim Thản..,các nhà nghiên cứu văn học như Đinh Gia Khánh, Cao Huy Đỉnh, Lê Trí Viễn, Bùi Văn Nguyên, Lê Đình Kỵ, Huỳnh Lý, Nguyễn Lương Ngọc, Trương Chính…Thế hệ trẻ hơn như Hà Minh Đức, Phan Cự Đệ, Nguyễn Đăng Mạnh,. … Họ là những người vừa tự học, vừa đặt nền móng cho hệ thống học thuật trong các trường đại học của chế độ mới. Trong số đó, giáo sư Đinh Gia Khánh là người đặt nền móng cho khoa văn học dân gian và văn học cổ. Cuộc đời học thuật của ông rất tiêu biểu cho thế hệ các nhà trì thức yếu nước đương thời. Học dở dang thì nghe theo tiếng gọi núi sông ra đi kháng chiến. Tham gia ngành giáo dục từ thấp đến cao, suốt đời tự học và trưởng thành cùng chế độ. Thời kì mà Giáo sư cho công bố các công trình cơ bản của mình cũng chính là lúc giáo sư Tạ Quang Bửu làm Bộ trưởng Bộ đại học và sự ra đời của nhà xuất bản Đại học và trung học chuyên nghiệp. Đó là lúc sự nghiệp đào tạo đại học nước ta đạt đến cực thịnh trong điều kiện chiến tranh. Đặc điểm của thế hệ học giả này là nồng nàn yêu nước, nắm vững và tin tưởng tuyệt đối vào chủ nghĩa Mác – Lenin, đường lối văn học nghệ thuật của Đảng Cộng sản, giàu tinh thần chiến đấu chống các tư tưởng thực dân và tư sản, các tư tưởng xét lại. Mặc dù ông vốn là giáo sư dạy tiếng Anh, thông thạo tiếng Pháp, song các tài liệu, học thuyết tư sản phương Tây rất ít khi được ông sử dụng mà thường là đối tượng phê phán. Tư liệu trích dân của ông ngoài Mác, Ăng ghen, Lên nin, Nghị quyết, là Gorki và một số nhà folklore xô viết. Tuy vậy ông đã cố gắng vượt qua dần dần sự hạn hẹp thế giới quan của mình để xây dựng nền tảng học thuật. Đặc điểm nổi bật của giáo sư Đinh Gia Khánh là ông là người học rộng, uyên bác. Ông không chỉ làm chủ toàn bộ các tư liệu, thành quả nghiên cứu văn học dân gian rất phong phú của người đi trước và các học giả đương thời, mà ông còn làm chủ cả khối tư liệu văn học thành văn, từ chữ Hán đến chũ Nôm. Tự bản thân ông tham gia dịch thuật Lĩnh Nam chích quái, phiên âm, chú thích Thiên Nam ngữ lục dài trên 8000 câu lục bát, soạn sách Truyện hay nước Việt, chủ biên tập Hợp tuyển thơ văn Việt Nam từ thế kỉ X đến thế kỉ XVII do ông viết Lời giới thiệu1962. Ông là người khởi xướng, chủ biên bộ lịch sử văn học Việt Nam, gồm Văn học dân gian 1972, văn học trung đại, gồm Văn học Việt Nam thế kỉ X đến nửa đầu thế kỉ XVIII cùng với các đồng nghiệp Bùi Duy Tân, Mai Cao Chương1978, và tập tập Văn học Việt Nam nữa cuối thế kỉ XVIII đến hết thế kỉ XIX do Nguyễn Lộc viết, được tái bản nhiều lần. Ông cũng là người đề xuất và chủ tịch Hội đồng biên tập bộ sách Tổng tập văn học Việt Nam đồ sộ bậc nhất, gồm 42 tập, coi như một tập đại thành toàn bộ thành tựu nghiên cứu văn học Việt Nam dưới chế độ mới. Nhờ thế mà ông nổi hẳn lên so với nhiều đồng nghiệp khác ở tầm nhìn xa và tầm bao quát. Đinh Gia Khánh là người chứng kiến bước trưởng thành vượt bậc của ngành nghiên cứu văn học dân gian Việt Nam cũng như ngành nghiên cứu văn học trung đại Việt Nam. Trước Cách mạng tháng Tám, trước sự xâm lăng của văn hóa và văn học Pháp, các trí thức yếu nước Việt Nam khởi đầu sưu tầm, nghiên cứu và phác thảo lịch sử văn học Việt Nam cùng các thể loại văn học dân gian Việt Nam. Các công trình văn học sử của Dương Quảng Hàm, Nguyễn Đổng Chi, Ngô Tất Tố, Bùi Hữu Sủng, Kiều Thanh Quế, Giản Chi…dù rất cố gắng tìm tòi, song do thiếu tư liệu và phương pháp luận cho nên còn nhiều hạn chế. Nói đến các tuyển tập văn học thì lại càng sơ lược, chủ yếu đáp ứng nhu cầu thưởng lãm và học tập ở trình độ trung học. Tác phẩm các tác giả lớn như Nguyễn Trai, Nguyễn Du đều chưa được phát hiện và phiên dịch. Sau năm 1954 một nhu cầu viết lại văn học sử dân tộc trên nền tảng chủ nghĩa Mác, song lúc đầu khó tránh sơ lược, giáo điều và dung tục. Phải gần 20 năm sau, trên cơ sở phiên âm, phiên dịch, bổ sung tư liệu, đẩy mạnh sưu tầm văn học dân gian người Việt và các dân tộc thiểu số, bấy giờ mới có điều kiện nhìn lại văn học sử cũng như văn học dân gian một cách khoa học và hệ thống. Ông là người hệ thống hóa văn học dân gian Việt Nam và đưa nó dần sang quỹ đạo văn hóa dân gian. Tôi nghĩ, trước năm 1945 nước ta chưa có thuật ngữ văn học dân gian, mà chỉ có thuật ngữ văn học truyền khẩu, văn học bình dân. Các sách của các học giả như Giản Chi, Thanh Lãng, Phạm Thế Ngũ đều chưa có khái niệm văn học dân gian nói chung, họ chỉ trình bày một số thể loại. Văn học dân gian là thuật ngữ Trung Quốc xuất hiện từ sau thời Ngũ Tứ 1919, nhưng nội hàm vẫn không ổn định. Ở họ từ Kinh Thi đã là văn học và cho đến nay vẫn là một bộ phận quan trọng của Văn học Tiên Tần. Cái khai niệm lục nghĩa phú, tỉ, hứng, phong, nhã, tụng làm cho nó văn học hóa và có lẽ Việt Nam tiếp thu khái niệm ấy từ sau năm 1950. Tất nhiên khái niệm văn học dân gian của các học giả Trung Quốc hiện đại rất phát triển, nhưng hồi xưa cũng còn thô sơ, chưa phân biệt với văn học thông tục, văn học bình dân. Giáo trình Đại học sư phạm năm 1961 nói đến văn học dân gian chỉ nói đến bắt nguồn từ lao động, phản ánh đời sống nhân dân, tính giai cấp…Có lẽ bắt đầu từ giáo sư Đinh Gia Khánh mới nhấn mạnh đầy đủ tính nguyên hợp và các tính chất khâc và chuyển dần sang văn hóa dân gian theo thông lệ quốc tế, nhưng vẫn giữ tính chất nghệ thuật ngôn từ dân gian, lấy đó làm cái cốt của văn học dân gian. Và hướng mở rộng này đã làm cho nghiên cứu văn hóa dân gian phát triển mạnh mẽ như ngày nay. Về nghiên cứu văn học dân gian ông cũng là người quan tâm nghiên cứu so sánh qua tác phẩm Sơ bộ tìm hiểu những vấn đề của truyện cổ tích qua truyện Tấm Cám 1968 và công trình Văn hóa dân gian Việt Nam trong bối cảnh văn hóa Đông Nam Á, 1993. Đó là những bước mở đầu rất đáng quý. Về văn học viết Việt Nam trung đại ông là người có cái nhìn bao quát trong bài lời nói đầu tập Hợp tuyển thơ văn Việt Nam thế kỉ X đến thế kỉ XVII có tên Vài nét về văn học Việt Nam từ thế kỉ X đến thế kỉ XVII đã trình bày cụ thể tình hình phát triển của thể loại và tác phẩm văn học cụ thể. Trong Phần Mở đầu Mười thế kỉ của tiến trình văn học Việt và viết 15 chương sách trên tổng số 24 chương của cuốn giáo trình năm 1978. Đặc điểm nổi bất của giáo trình của Đinh Gia Khánh là sự phân tich cặn kẻ tình xã hội, điều kiện lịch sử, sự phân hóa gia cấp từng thời kì, mô tả tình hình trạng thái văn hóa xã hội, bao gồm tổ chức chính quyền, tổ chức việc học, các giai cấp xã hội các tôn giáo, các học thuyết thẩm thấu vào nhau, rồi sau đó mới đi sâu phân tích các tác phẩm văn học cụ thể như là sự phản ánh tinh thần của thời đại. Thiếu một vốn tri thức bậc thầy thì khó mà làm được các yêu cầu đó. Trong suốt thời trung đại điều ông thấm nhuần nhất là ảnh hưởng sâu sắc của văn học dân gian đối với sự hình thành và phát triển của văn học viết Việt Nam và khi phát triển văn học viết ảnh hưởng trở lại đối với văn học dân gian. Có thể nói đó là sự vân dụng đến mức mẫu mực của phương pháp nghiên cứu mác xít đương thời với ý thức duy vật rất tỉnh táo, tính chiến đấu chống mê tín, dị đoan rất cao, sự quán triệt các chỉ đạo của các văn kiện của Đảng rất chặt chẽ. Chỉ trong phần mở đầu của cuốn giáo trình đã có bốn trích dẫn văn kiện, mà đến thời Đổi mới, khi tái bản các phần đó đã được tác giả lược bỏ theo tinh thần Đổi mới 1998. Toàm bộ công tring khoa học của giáo sư phần lớn đều hoàn thành trước thời kì đổi mới, khi sự giaoluwu học thuật Đông Tây còn có nhiều hạn chế, tấ khó tránh khỏi các hạn chế lịch sử. Các hạn chế ấy, các học trò của giáo sư sẽ bù đắp, nhưng địa vị mở đầu của giáo sư là rất to lớn. Giáo sư Đinh Gia Khánh còn là người tôn trọng các quy phạm khoa học. Trong nghiên cứu tiến trình lịch sử văn học trung đại, ông cũng như các nhà nghiên cứu khác chọn cách tính mốc bằng thế kỉ, mà không chọn các mốc theo triều đại như văn học Trung Quốc hay Nhật Bản. Các học giả Miền Nam cũng xét văn học trung đại theo “lịch triều”. Ví dụ, bộ văn học sử nổi tiếng của Phạm Thế Ngũ có hai phần Phần văn học truyền khẩu và phần văn học lịch triều. Cách tính mốc thế kỉ chó thể cho ta cái mẫu số chung để xem văn học Việt Nam trong bối cảnh thế giới. Đó là điều mà bộ Lịch sử văn học thế giới của các học giả Nga đã làm. Theo cái mốc đó ta có thể thấy vào thế kỉ XV, khi Nguyễn Trãi viết Quốc âm thi tập, ghi dấu sáng tạo văn học bằng ngôn ngữ dân tộc thì cũng là lúc Dante viết Thần Khúc bằng tiếng Ý, Chause viết bằng tiếng Anh và Grimenhausen sáng tác bằng tiếng Đức. Tính mốc thế kỉ có giá trị so sánh khi xét văn học Việt trong bối cảnh thế giới. Cách dùng thuật ngữ của giáo sư cũng mang tính mẫu mực. Cho đến lúc bầy giờ trong văn giới ta các khái niệm văn thơ, văn học, văn chương được dùng thay thế nhau coi như từ đồng nghĩa. Bộ sách Hợp tuyển thơ văn Việt Nam do nxb Văn Hóa in năm 1962 có thể coi là quy mô nhất, nhưng cải tên Hợp tuyển thơ văn là lặp lại cái tên sách của Dương Quảng Hàm Việt Nam thi văn hợp tuyển. Nguyễn Huệ Chi chủ biên bộ Thơ văn Lí Trần cũng lặp lại cái tên thơ văn. Điều thú vị là bìa ngoài cuốn hợp tuyển do Trần Đình Thọ trình bày ghi là Hợp tuyển thơ văn, nhưng bìa trong do Văn Cao trình bày thì lại ghi là Văn học Việt Nam. Tính chất nước đôi trong tên gọi chứng tỏ sự thiếu nhất quán về thuật ngữ. Sau này khi đề xuất ý tưởng làm bộ Tổng tập văn học Việt Nam, giáo sư Đinh Gia Khánh đã dứt khoát dùng từ văn học. Theo tôi, đó là cách dùng quy phạm, bởi vì tất cả các sách văn học sử Việt Nam từ trước 1945 đều viết là văn học, các tác phẩm đều là văn học, đó là cách gọi chuẩn hóa, quy phạm về mặt thuật ngữ. Văn học đây là từ dịch từ thuật ngữ literature trong tiếng Anh, thông dụng ở Nhật Bản, Trung Quốc và Việt Nam đầu thế kỉ XX. Một học giả lớn, theo tôi nghĩ, không chỉ có cống hiến nhiều về các phát hiện khoa học, mà còn là người xác lập, tuân thủ các quy phạm khoa học. Riêng mặt này giáo sư cũng là bậc thầy của nhiều thế hệ. Hà Nội, nhày 3 tháng 10 năm 2013.
giáo sư trần đình sử