hoàng phủ ngọc tường sông hương
Tác phẩm: - Viết tại Huế ngày 4-1 -1981, in trong tập sách cùng tên. - Bài kí gồm 3 phần: + Phần 1: Ngợi ca sông Hương và xứ Huế. + Phần 2: Bề dày lịch sử của sông Hương và Huế. + Phần 3:Làng Thành Trung và huyền thoại về tên sông. - Đoạn trích thuộc phần thứ nhất của bài kí.
cũng dưới cái nhìn của hoàng phủ ngọc tường, sông hương như một cô gái, từng có lúc là một cô gái di-gan phóng khoáng và man dại (khi ở vùng thượng lưu) nhưng nói chung là một thiếu nữ tài hoa, dịu dàng mà sâu sắc, đa tình và kín đáo, lẳng lơ nhưng rất mực chung tình, khéo trang sức mà không lòe loẹt phô phang, giống như những cô dâu huế ngày xưa …
@@@ Kết bài tham khảo : Có lẽ đối với Hoàng Phủ Ngọc tường nói riêng, với nhân dân Huế nói chung thì sông Hương chính là biểu tượng đẹp đẽ của xứ Huế suốt mấy nghìn năm lịch sử.Bằng ngòi bút tinh tế, cảm xúc chân thành và tấm lòng yêu thương sâu sắc , Hoàng
2. Chứng minh vẻ đẹp của sông Hương qua các góc nhìn khác nhau: a. Mở bài: - Ai đã đặt tên cho dòng sông là tác phẩm bút kí kiệt xuất của Hoàng Phủ Ngọc Tường. - Đoạn trích thể hiện vẻ đẹp, chất thơ từ cảnh sác thiên nhiên của song Hương. b. Thân bài: * Từ
TIẾT THỨ:49-50 / Tuần: 17 AI ĐÃ ĐẶT TÊN mang lại DÒNG SÔNG? (Trích- Hoàng bao phủ Ngọc Tường) Ngày soạn: Ngày dạy: mức độ đề nghị đạt kỹ năng và kiến thức :. a/ nhận biết: HS nhận biết, nhớ được tên tác giả và hoàn cảnh ra đời của các tác phẩm.
Dòng sông Hương nơi khơi nguồn của hứng sáng tác của Hoàng Phủ Ngọc Tường. Sông Hương không chỉ mang vẻ đẹp kiều diễm của người con gái xứ Huế trong làn sương mờ ảo có đầy đủ cảm xúc, tính cách riêng mà đó còn là nơi lưu giữ những câu hò điệu lý, vần thơ
Ơi Vay Lừa Đảo. 1. Hướng dẫn phân Phân tích Hệ thống luận Sơ đồ tư Lập dàn ý2. Một số bài văn tham khảo bài số bài số bài số 3Tài liệu hướng dẫn phân tích vẻ đẹp sông Hương trong bài Ai đã đặt tên cho dòng sông, gợi ý cách làm, phân tích đề, sơ đồ tư duy kèm một số bài văn mẫu tham khảo phân tích những nét đẹp của sông Hương qua tác phẩm Ai đã đặt tên cho dòng sông Hoàng Phủ Ngọc Tường.Bạn đang xem Thủy trình của sông hươngĐề bài Phân tích vẻ đẹp dòng sông Hương trong tác phẩm Ai đã đặt tên cho dòng sông Hoàng Phủ Ngọc Tường.Hướng dẫn phân tích vẻ đẹp sông Hương trong Ai đã đặt tên cho dòng sôngXem chi tiết Sơ đồ tư duy Ai đã đặt tên cho dòng sông4. Lập dàn ýa Mở bài- Giới thiệu vài nét về tác giả, tác phẩm+ Hoàng Phủ Ngọc Tường là nhà văn của xứ Huế chuyên viết về bút kí, có sức liên tưởng tưởng tượng dồi dào, lối hành văn mê đắm.+ Dòng sông đổi dòng liên tục – như một sự trăn trở “sông Hương đã chuyển dòng một cách liên tục, vòng giữa khúc quanh đột ngột, uốn mình theo những đường cong thật mềm …”, “sông Hương đi trong dư vang của Trường Sơn, vòng qua một lòng vực sâu dưới chân núi Ngọc Trản…”+ Màu nước biến ảo sớm xanh, trưa vàng, chiều tím – tím Huế.+ Nhịp chảy chậm rãi, “mềm như tấm lụa”+ Từ ngã ba Tuần đến chân đồi Thiên Mụ mang dáng vẻ trầm mặc khi chảy qua những lăng tẩm, đổi dòng chuyển hướng liên tục.+ Từ chân đồi Thiên Mụ đến lúc gặp Huế “vui hẳn lên”, “kéo một nét thẳng” vì tìm đúng đường về+ Giáp mặt Huế, sông Hương không gặp Huế ngay mà “uốn một cánh cung... tình yêu” như một người con gái bẽn lẽn, ngại Khi chảy vào lòng thành phố+ Tác giả so sánh sông Hương với những dòng sông nổi tiếng trên thế giới, sông Hương chỉ thuộc về một thành phố duy nhất, giống như người con gái chung thủy.+ Sông Hương mang đến cho Huế một vẻ đẹp cổ xưa dân dã “ánh lửa thuyền chài ... xưa cũ”, trôi đi chậm như một mặt hồ.+ Người con gái đắm say tình tứ khi bên người mình yêu, người con gái tài hoa “tài nữ đánh đàn trong đêm khuya”.+ Sông Hương trong cảm nhận hội họa“Sông Hương vui tươi hẳn lên… đông bắc” -> sông Hương như một thực thể sống động, có niềm tin, tâm trạng khi tìm lại được chính mình.“Chiếc cầu trắng… lời của tình yêu” -> vẻ đẹp thanh thoát của sông Hương và cầu Tràng Tiền“Không giống như sông Xen… yêu quý của mình” -> tác giả tự hào khi so sánh sông Hương với các con sông nổi tiếng trên thế giới.+ Sông Hương trong cảm nhận âm nhạcSông Hương - “điệu slow tình cảm dành riêng cho Huế”, sông Hương chảy chậm, điệu chảy lững lờ vì nó quá yêu thành phố của mình. -> chất âm nhạc thể hiện ở nhịp điệu êm đềm của bài bút kí bởi những câu văn dài nối tiếp Khi rời thành phố+ “Rời khỏi kinh thành… thị trấn Bao Vinh xưa cổ…”-> Từ biệt Huế ra biển, sông Hương giống như một người tình bịn rịn, lưu luyến khi tạm biệt cố nhân.=> Tác giả chủ yếu cảm nhận vẻ đẹp sông Hương từ góc độ tình yêu khiến sông Hương hiện lên như một người con gái chung tình hết lòng vì tình yêu.=> Hoàng Phủ Ngọc Tường đã miêu tả dòng sông từ nhiều không gian, thời gian khác nhau. Ở mỗi góc độ nhà văn đều thể hiện cảm nghĩ sâu sắc mới mẻ về non sông. Qua đó, ta thấy được tình cảm yêu mến thiết tha, niềm tự hào và một thái độ trân trọng gìn giữ đối với vẻ đẹp tự nhiên đậm màu sắc văn hóa của nhà văn với dòng sông quê điểm 2 Sông Hương trong cái nhìn của lịch sử- Sông Hương là một nhân chứng lịch sử của Huế, của đất nước “soi bóng kinh thành Phú Xuân của người anh hùng Nguyễn Huệ”, chứng kiến những mất mát đau thương của các cuộc khởi nghĩa thế kỉ XIX,...- Sông Hương như một công dân có ý thức trách nhiệm sâu sắc với đất nước “biết hiến đời mình để làm nên chiến công”,...- Là một người con gái anh hùng cùng gắn bó với Huế qua nhiều cuộc chiến đấu anh hùng trong thời kì trung đại, đến cách mạng tháng Tám,...=> Sông Hương trở thành dòng linh giang của tổ quốc, chứng nhân lịch sử cho bao sự kiện thăng trầm của dân tộc, là dòng sông của thời gian ngân vang của sử thi viết giữa màu cỏ lá xanh thêm Giải Vở Bài Tập Toán Lớp 5 Tập 1 Bài 19 Luyện Tập, Giải Vở Bt Toán 5 Bài 19 Luyện Tập Trang 25Luận điểm 3 Sông Hương nhìn ở góc độ văn hóa- Sông Hương là “người mẹ phù sa của vùng văn hóa xứ sở” toàn bộ âm nhạc cổ điển Huế, những bản đàn theo suốt cuộc đời Kiều và bản Tứ đại cảnh đều được sinh thành trên sông nước sông Là người tài nữ đánh đàn trong đêm khuya không bao giờ lặp lại trong cảm hứng của các thi Là dòng sông thi ca, là cảm hứng bất tận cho các nhà văn nghệ sĩ+ “Dòng sông trắng - lá cây xanh” trong cái nhìn của Tản Đà+ ”Kiếm dựng trời xanh” trong khí phách của Cao Bá Quát.* Đặc sắc nghệ thuật- Liên tưởng độc đáo- Sử dụng từ ngữ đặc sắc, văn phong tao nhã- Nghệ thuật xây dựng hình tượng sông Hươngc Kết bài- Đánh giá khái quát lại vẻ đẹp dòng sông Hương- Nêu cảm nhận của em Qua tác phẩm ta cảm nhận được niềm tự hào tha thiết của tác giả với vẻ đẹp thiên nhiên xứ Huế cũng như đất ý so sánh vẻ đẹp sông Đà trong Người lái đò sông Đà và sông Hương trong Ai đã đặt tên cho dòng sôngBên cạnh việc xây dựng dàn ý chi tiết cho bài văn phân tích vẻ đẹp sông Hương trong bài Ai đã đặt tên cho dòng sông, các em nên đọc thêm nhiều bài văn mẫu hay để củng cố kiến thức, mở rộng vốn từ và kĩ năng trình bày. Dưới đây là một số bài văn phân tích hay mà Đọc Tài Liệu muốn giới thiệu tới các em, cùng tham khảo nhé !Một số bài văn tham khảo hay phân tích vẻ đẹp dòng sông Hương
Hoàng Phủ Ngọc Tường là một tác giả sáng tác có nhiều thành công ở nhiều thể loại. Tuy nhiên, thành công chủ yếu của ông là ở thể kí. Nguyễn Tuân - một bậc thầy về thể kí đã cho rằng kí của Hoàng Phủ Ngọc Tường có rất nhiều ánh lửa. Nét đặc sắc trong sáng tác của ông là ở sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa chất trí tuệ và chất trữ tình, giữa nghị luận sắc bén với tư duy đa chiều được tổng hợp từ vốn kiến thức phong phú về triết học, văn hóa, lịch sử, địa lí,... Tất cả được thể hiện qua lối hành văn hướng nội, súc tích, mê đắm và tài hoa. Bút kí Ai đã đặt tên cho dòng sông ? của ông viết tại Huế năm 1981 là một trong những tác phẩm đặc sắc vừa thể hiện những nét đẹp độc đáo của sông Hương vừa thể hiện nét tài hoa, uyên bác của cái tôi Hoàng Phủ Ngọc Tường nhạy cảm, tinh tế, nhất mực say mê cái đẹp của quê hương, đất nước. Mở đầu đoạn trích là hình ảnh sông Hương chảy qua cánh đồng Châu Hóa, dưới góc nhìn nhân cách hóa, tác giả ví von sông Hương như một “người gái đẹp”. Câu văn như thảm lụa ngôn từ dệt nên một huyền thoại đẹp “phải nhiều thế kỷ qua đi, người tình mong đợi mới đến đánh thức người gái đẹp ngủ mơ màng giữa cánh đồng Châu Hoá đầy hoa dại”. Hình ảnh được nhân cách hóa, liên tưởng thú vị tới truyện cổ tích “Nàng công chúa ngủ trong rừng”. Hai chữ “mơ màng” gợi tả hình ảnh một giấc ngủ đẹp và đầy quyến rũ của dòng sông, dòng sông như tỉnh như mơ, như thực như mộng. Hình ảnh cánh đồng hoa dại gợi tả một không gian trong trẻo, thơ mộng nhuốm màu cổ tích. Chỉ một câu văn ngắn Hoàng Phủ Ngọc Tường đã làm toát lên vẻ đẹp trong sáng, hồn nhiên của dòng sông, để từ đó, ngòi bútcủa nhà văn cuốn hút người đọc vào thuỷ trình đầy mê hoặc của Hương giang. Dưới góc nhìn địa lý, hội họa, sông Hương hiện lên với dòng chảy quanh co; dưới góc nhìn nhân cách hóa, sông Hương giống “như một cuộc tìm kiếm có ý thức”. Giấu khuôn mặtmình vào chân núi Kim Phụng, “sông Hương đã chuyển dòng một cách liên tục, vòng giữa khúc quanh đột ngột, uốn mình theo những đường cong thật mềm, như một cuộc tìm kiếm có ý thức”. Câu văn mềm mại, uyển chuyển biết bao. Sông Hương sau vài thế kỷ ngủ quên giữa cánh đồng Châu Hóa đã được người tình mong đợi đến đánh thức, nhưng đánh thức rồi người tình không biết đã đi đâu, nên nàng ngơ ngác đi tìm, vô tình cuộc tìm kiếm ấy đã làm cho dòng sông càng trở nên đẹp đẽ. Những từ ngữ như “khúc quanh đột ngột”, “uốn mình”, “đường cong thật mềm” cùng với phép so sánh “như một cuộc tìm kiếm có ý thức” đãgợi ra hình ảnh dòng sông mềm mại, nữ tính, gợi cảm, quyến rũ. Nét đẹp ấy cũng khiến ta liên tưởng đến nét “ngoằn ngoèo”, hay “áng tóc trữ tình” tuôn dài, tuôn dài của sông Đà dưới ngòi bút tài hoa của Nguyễn Tuân. Càng cho ta thêm một nét cảm nhận về vẻ đẹp thiên nhiên bao la của đất nước mà thêm trân quý những vẻ đẹp của non sông đất nước mình. Không chỉ dừng lại ở đó, men theo thủy trình của dòng sông, men theo đường cong mềm mại, thướt tha ấy của cô gái Hương giang nhà văn còn phát hiện ra “Từ ngã ba Tuần, sông Hương theo hướng nam bắc qua điện Hòn Chén; vấp Ngọc Trản, nó chuyển hướng sang tây bắc, vòng qua thềm đất bãi Nguyệt Biều, Lương Quán rồi đột ngột vẽ một hình cung thậttròn về phía đông bắc, ôm lấy chân đồi Thiên Mụ, xuôi dần về Huế”. Câu văn sử dụng phép liệt kê điện Hòn Chén, Ngọc Trản, Nguyệt Biều, Lương Quán, Thiên Mụ… mang đến cho người đọc những danh lam thắng cảnh nổi tiếng của xứ Huế cũng như vốn hiểu biết sâu rộng, kiến thức địa lý phong phú của nhà văn. Tác giả sử dụng nhiều động từ chỉ đường nét khiến ta hình dung về dòng chảy trữ tình của con sông thật sống động “vấp – chuyển hướng – vòng qua – vẽ một hình cung – ôm lấy – xuôi dần…”. Hệ thống động từ đặc tả dòng chảy ấy làm sông Hương hiện lên chân thực, sắc nét, có hồn như một sinh thể sống động và giàu sức sống. Quan sát ở điểm nhìn gần hơn “từ Tuần về đây, sông Hương vẫn đi trong dư vang của Trường Sơn, vượt qua một lòng vực sâu dưới chân núi Ngọc Trản để sắc nước trở nên
Đọng lại trong nghiệp văn của Hoàng Phủ Ngọc Tường là thể ký. Không chỉ về số lượng trong 16 tác phẩm chính đã xuất bản, thể ký chiếm 14 ấn phẩm, 2 ấn phẩm còn lại là thơ, mà ký của Hoàng Phủ Ngọc Tường rất đẹp – đẹp về nội dung và đẹp cả về hình thức biểu đang xem Sông hương hoàng phủ ngọc tườngNếu Nguyễn Tuân “viết tùy bút như một công trình khoa học” theo Phan Ngọc, thì ký của Hoàng Phủ Ngọc Tường là những thi phẩm văn xuôi với nhiều cung bậc của cảm xúc và lý trí hoà quyện. Nguyễn Tuân và Hoàng Phủ Ngọc Tường, văn chương của mỗi người có phong cách riêng, đã góp phần quan trọng khẳng định ký là một thể loại đặc sắc trong nền văn học Việt Nam hiện đại, đặc biệt có ý nghĩa trong tiến trình làm giàu và làm đẹp tiếng văn Hoàng Phủ Ngọc TườngHoàng Phủ Ngọc Tường “đã chọn bút ký là thể loại văn xuôi tiêu biểu… là duy nhất và không thể thay thế được”, như ông tâm sự về nghề văn. Đó là một lựa chọn có nền tảng – nền tảng của học vấn, của chiêm nghiệm và hơn nữa là nền tảng của tâm Phủ Ngọc Tường sinh ngày 9 tháng 9 năm 1937, tại thành phố Huế, nhưng quê gốc ở làng Bích Khê, xã Triệu Long, huyện Triệu Phong, tỉnh Quảng Trị. Sau khi học hết bậc trung học ở Huế, năm 1960 ông tốt nghiệp khóa I ban Việt Hán, Đại học Sư phạm Sài Gòn. Năm 1964, Hoàng Phủ Ngọc Tường nhận bằng Cử nhân triết Đại học Văn khoa Huế. Từ năm 1960 đến năm 1966 ông dạy học tại trường Trung học phổ thông chuyên Quốc Học Huế. Từ năm 1966 đến 1975, Hoàng Phủ Ngọc Tường thoát ly gia đình lên chiến khu, tham gia cuộc kháng chiến chống Mỹ bằng hoạt động văn nghệ – đây có thể coi là thời điểm tạo bước ngoặt để ông dấn thân cho văn động văn nghệ trong kháng chiến chống Mỹ là thời gian Hoàng Phủ Ngọc Tường có điều kiện thâm nhập thực tế nhiều địa phương, tiếp xúc nhiều hoàn cảnh, nhiều nhân vật. Thực tế đã cung cấp cho ông những góc nhìn mới, cách cảm mới, làm chất xúc tác cho sự chiêm nghiệm trong ông ngày thêm dày dặn, thêm sâu sắc, cả về tri thức lẫn cảm xúc, để từ đó kết tinh thành những tác phẩm ký chứa đựng sự thăng hoa trong bút pháp của người nghệ sỹ ngôn ký của Hoàng Phủ Ngọc Tường luôn cho tôi cảm giác thú vị, lần đọc sau cảm giác thú vị lại đậm đà hơn, “cá biệt” hơn. Thực tại trong ký của Hoàng Phủ Ngọc Tường không dừng lại ở sự mô tả mà loang ra, trộn vào quá khứ gần quá khứ xa, để rồi trồi lên khát tính triết học trong ông không miệt mài lý giải mà nhường chỗ cho trực giác dịch biến để thức nhận cái hoàn mỹ của các hiện tượng và sự vật trong sự giàng buộc lẫn viết văn không thể thiếu ký ức, bởi ký ức là nguồn cảm hứng đặc biệt. Ký ức không phải là quá khứ, cũng không phải là kinh nghiệm, mà là quá trình tích luỹ và rèn luyện xúc cảm trước những cái nhìn thấy và cả những cái không nhìn thấy, nhào luyện nó và nén nó lại, nuôi dưỡng nó cho tâm hồn luôn ở trạng thái rung động có ý thức, từ tự phát đến tự giác của khả năng nhạy cảm. Do đó,ngẫu nhiên không phải là thuộc tính của ký ức. Ký ức là một nguồn năng lượng,cũng là năng lực, khác nhau ở mỗi nuôi dưỡng và khai thác ký ức trong lao động sáng tạo nghệ thuật không giống nhau ở từng ức luôn luôn vận động và sẵn sàng gia nhập tương lai khi người ta ý thức và chủ động đưa nó vào cuộc sáng tạo. Nói cách khác, ký ức là quá trình tổng hợp nền tảng tri thức bền vững và sức tưởng tượng bay bổng, làm nên tác phẩm mang đặc tính riêng của một tác giả có phong cách độc Phủ Ngọc Tường là một tác giả biết chắt chiu, nuôi dưỡng và sử dụng ký ức hiệu quả. Trong mỗi tác phẩm ký của ông, ký ức thực sự là nhân tố gắn kết vững chắc các yếu tố hình thành nên tác phẩm. Hoàng Phủ Ngọc Tường tâm sự “Những ý niệm hình thành trong tuổi thơ của tôi chiếm một vai trò quan trọng trong vốn liếng văn hoá của đời người … Qua cát bụi đi hoài mỏi chân, ý niệm kia đã đâm chồi nảy lộc trong tâm thức tôi thành nỗi khát khao về Vĩnh Hằng”, từ đó ông khẳng định “văn hoá là báu vật dành cho con người”, và cho rằng “Người ta hoàn toàn có khả năng tái sinh văn hoá thiên nhiên của Bạch Mã bằng cách bố trí lại cơ cấu cây trồng’ như thường nói”. Không dừng lại ở những kỷ niệm, bằng những chiêm nghiệm và kiến văn sâu rộng, Hoàng Phủ Ngọc Tường dựng nên tác phẩm ký Ngọn núi ảo ảnh đẹp như một bức khảm vỏ trai, vỏ ốc hài hoà và tinh xảo, bất kỳ ở góc nhìn nào cũng đều thấy ánh lên độ sáng vừa thực vừa ảo. Những ký ức xa-gần, xen kẽ, của tác giả về Bạch Mã – một dãy núicách Huế 40 km về phía nam và cách Đà Nẵng 60 km về phía bắc, để lại trong lòng người đọc một ký ức dày dặn về một địa danh không phải bất cứ ai cũng có điều kiện chiêm ngưỡng cảnh đẹp hùng vĩ và hiểu biết nhiều về “thân phận” thăng trầm qua những biến cố tự thân cũng như ngoại lực tác động thường xuyên. Trong cái đẹp toàn thể, bật lên cái đẹp khao khát của tác giả ngẫm về cuộc đổi thay “số phận” của Bạch Mã, mà trước hết trông chờ vào chính sự thay đổi ý thức và tư duy của con người đối với thiên nhiên. Cuối tác phẩm Ngọn núi ảo ảnh, Hoàng Phủ Ngọc Tường hạ một nốt trầm ngân nga “Bạch Mã như là một thành phố ảo ảnh trong sa mạc, huy hoàng phút chốc rồi tan biến, chỉ còn lại một bóng núi lau mờ…”. Chính nốt trầm này gõ vào lòng trắc ẩn của người đọc, xua đuổi sự thờ ơ, trỗi dậy niềm hy vọng có đủ căn cứ nhân Phủ Ngọc Tường là người kể chuyện bằng thể ký. Bám sát các sự kiện, các nhân vật một cách chân thực, nhưng không lệ thuộc, ông thổi vào đối tượng điệu hồn mang cốt cách của những thực thể, mà tính cá thể ấy vận động trong tổng thể xác định không thể tách rời. Không để lại dấu vết hư cấu, bút pháp ký của Hoàng Phủ Ngọc Tường cũng không che khuất nghệ thuật cấu trúc truyện cũng như nghệ thuật nhân cách hoá và ẩn dụ của thơ. Chẳng hạn, như trong“Diễm xưa” của tôi, Kon Lai và Kan Sao là hai nhân vật “đậm đà”, trong khi Kon Lai kỳ lạ như “một cây tùng cổ, đã quên già để sống không cần biết tuổi”, thì Kan Sao là người con gái đẹp có “nụ cười hoa ngâu và đôi mắt nai dịu dàng của Huế”. Và, Hoàng Phủ Ngọc Tường trở thành người con của Huế từ khi nào chẳng nhớ, chỉ biết rằng Huế là nhân vật trữ tình kiều diễm nhất trong đời văn của bó với Huế từ lâu, nhưng Hoàng Phủ Ngọc Tường vẫn “bỗng” nhận ra Huế là một thành phố lạ lùng “Mơ mộng, lười biếng như nàng công chúa sầu muộn, để chợtnhiênnổi giận, thách thức như một lời hịch tuyên chiến. Hình như trong mỗi người Huế-ham-chơi vẫn tiềm ẩn một cái tôi thứ hai’ sẵn sàng nhày vào lửa” Hành lang của người và gió….Hai “tính cách” ấy của Huế chịu ảnh hưởng sâu sắc và lâu dài từ dòng Hương giang, không chỉ ở khúc sông chảy trong lòng chiều dài từ thượng nguồn ra đến cửa biển, sông Hương bồi đắp cho thành phố bề dày với những nét đẹp vừa lộng lẫy vừa phảng phất, níu kéo biết bao tâm hồn thổn thức, để lại cho đời người câu chuyện huyền thoại về cái tên vừa mỏng của “dòng sông trắng – lá cây xanh” Tản Đà vừa sắc lẹm “như kiếm dựng trời xanh” Cao Bá Quát, rằng “vì yêu quý con sông xinh đẹp của quê hương, con người ở hai bờ đã nấu nước trăm loài hoa đổ xuống lòng sông, để làn nước thơm tho mãi mãi” Ai đã đặt tên cho dòng sông. Không dừng lại ở đó, Hoàng Phủ Ngọc Tường nhập vào dòng chảy của con sông “rất nhạy cảm với ánh sáng, nó thay màu nhiều lần trong một ngày như hoa phù dung và đôi khi màu nước không biết từ đâu mà có, không giống với màu của trời”, để từ đó nhận ra “Cuối Hè, Huế thường có những buổi chiều tím, tím cầu, tím áo, cả ly rượu đang uống trên môi cũng chuyển thành màu tím; và sông Hương trở thành dòng sông tím sẫm hoang đường như trong tranh siêu thực” – màu tím Huế trở thành “dấu hiệu của một nội tâm trong sáng, giàu có nhưng gìn giữ để không bộc lộ nhiều ra bên ngoài, vì thế với người phụ nữ Huế, màu tím ấy vừa là màu áo, vừa là đức hạnh” Sử thi buồn.Một trong những ấn tượng nổi trội ở các tác phẩm ký của Hoàng Phủ Ngọc Tường làtình yêu thiên nhiên, một tình yêu luôn luôn là bà đỡ để ông cảm thụ và đem lòng yêu từng chi tiết của mỗi mảnh đất cụ thể. Ông viết “Nhiều lần thức giấc trong mùi hương rạo rực của ban đêm, tôi chợt phát hiện ra rằng Huế là một thành phố được dành cho cỏ”, và “Thật vậy, không nơi nào trên thế giới mà những công trình kiến trúc của con người lại mọc lên giữa cỏ hoang như ở Huế” Miền cỏ thơm. Phải có hiểu biết và chiêm nghiệm sâu sắc mới có thể biểu tả thành cảm xúc như thế. Trong Hoa trái quanh tôi, Hoàng Phủ Ngọc Tường có nhiều đúc kết tinh tế về Huế, rằng “Có lẽ thiên nhiên đã giữ một vai trò nào đó, thực quan trọng, trong sự tổng hợp nên cái mà người ta có thể gọi là bản sắc Huế’. Bởi vì thiên nhiên bao giờ cũng biểu hiện một cách nhất quán giữa cái hằng cửu và cái biến dịch, giữa cái biến động và cái tĩnh tại”. Điều đó phù hợp với bản chất thống nhất và phân hoá trong mối quan hệ hữu cơ giữa con người và thiên nhiên tính đặc thù ở mỗi cảnh quan tự nhiên vị trí địa lý, đất đai, khí hậu… là điều kiện cần thiết để con người xác lập cho xứ sở của mình một cảnh quan văn hoá riêng. Và, ở đoạn văn tiếp sau, Hoàng Phủ Ngọc Tường nhận xét rất nhân bản, rằng “Hình như khi xây dựng nên đô thị của mình, người Huế không bộc lộ cái ham muốn chế ngự thiên nhiên theo cách người Hy Lạp và La Mã, mà chỉ tìm cách tổ chức thiên nhiên trở thành một kẻ có văn hoá để có thể tham dự một cách hài hoà vào cuộc sống của con người, cả bên ngoài và bên trong”. Nhìn rộng ra, cách “tổ chức thiên nhiên trở thành một kẻ có văn hoá” là đặc điểm căn bản của người Việt trong tiến trình xây dựng và khẳng định bản sắc văn hoá trên phạm vi lãnh thổ cư trú của mình qua lịch sử nhiều biến động. Tính cách ấy người Huế thể hiện có phần khu biệt qua quan sát của Hoàng Phủ Ngọc Tường “sẽ là vô ích nếu người ta định tìm kiếm ở Huế những khu vườn cao sản kiểu vựa trái của miền Đông Nam Bộ, và nếu người ta quên không nhìn đến diện mạo văn hoá của cái thế giới thực vật nho nhỏ kia”, bởi “Người Huế lập vườn, trước hết như là nơi cư ngụ của tâm hồn mình giữa thế gian, ước mong sẽ là chút di sản tinh thần để đời cho con cháu”. Khó có ai yêu và thấu hiểu Huế một cách ngọn ngành, căn cơ sánh bằng Hoàng Phủ Ngọc Tường. Tình yêu ấy thúc giục cái ký ức tổng thể trong ông trỗi dậy, nhẩn nha điểm xuyết tất cả những gì lắng đọng trong tâm hồn ông phát lộ thành ngôn ngữ văn chương, phảng phất mà chắc nịch, hối hả mà trầm tư “Tôi nhận ra ở mỗi con người quanh tôi, trĩu nặng một nỗi lòng thương cây nhớ cội, và nét điềm tĩnh của mảnh đất mà họ đã cày cuốc và gieo hạt”.Con người và thiên nhiên trong ký của Hoàng Phủ Ngọc Tường quấn quýt và nâng đỡ nhau như hình với bóng. Bằng kiến văn của mình, ông chứng minh trên nền tảng thiên nhiên ấy, trí tuệ và sức vóc con người Huế đã kiến tạo nên một vùng văn hoá Huế, mà thành phố Huế là nhân lõi, chứa đựng nhiều tầng, nhiều lớp đặc trưng của lịch sử hình thành và phát triển, vừa thống nhất với đặc điểm văn hoá dân tộc vừa mang những sắc thái riêng, độc đáo và thi vị. Ký ức của Hoàng Phủ Ngọc Tườngmang đầy đủ các yếu tố địa-sử-văn-triết và qua cách biểu cảm ông đã tạo nên những tác phẩm có chiều sâu văn hoá. Trong tư duy sáng tạo nghệ thuật, Hoàng Phủ Ngọc Tường thực sự coi trọng yếu tố địa lý, xem các thành tố của thiên nhiên là những thực thể, đưa chúng vào cùng vận động với sự chuyển biến của tác phẩm, chứ không chỉ “mượn” thiên nhiên nhằm làm “đẹp” tác phẩm như ở khá nhiều người viết khác. Đặc điểm này góp phần cấu thành nên phong cách ký Hoàng Phủ Ngọc thêm Hệ Số Góc Của Tiếp Tuyến - Tổng Hợp Trắc Nghiệm Dạng Toán Về Tiếp TuyếnKý của Hoàng Phủ Ngọc Tường đẹp từ trong tư duy và vì thế đẹp cả trong cách thể hiện, với sự chặt chẽ của cấu trúc và sự trong sáng của ngôn ngữ. Đọc các tác phẩm của Hoàng Phủ Ngọc Tường, tôi học được nhiều điều bổ ích, bởi ông là người thổi hồn vào thể ký.
Đề bài Vẻ đẹp của sông Hương qua góc nhìn của Hoàng Phủ Ngọc Tường Hoàng Phủ Ngọc Tường là một nhà văn có phong cách độc đáo và sở trường về thể bút kí, tuỳ bút. Lời văn của Hoàng Phủ Ngọc Tường được cấu tạo bởi hệ thống ngôn từ nghệ thuật sang trọng, ám ảnh, đậm chất trữ tình của cái tôi uyên bác, tài hoa. Ông là một trí thức yêu nước, đã từng gắn bó đời mình với cuộc kháng chiến chống Mỹ gian khổ, anh hùng của dân tộc. Để rồi, sau năm 1975, khi đất nước thống nhất, ông đã chắp bút viết tập kí “Ai đã đặt tên cho dòng sông?”. Trong tác phẩm, nhà văn gắn bó lòng yêu nước, tinh thần dân tộc với tình yêu sâu sắc dành cho thiên nhiên đất nước và với truyền thống văn hoá lịch sử lâu đời của dân tộc mà ông đã bỏ công say mê tìm tòi, tích luỹ cả một đời người. Tất cả những phẩm chất ấy đã được thể hiện rất rõ qua việc ông tái hiện lại vẻ đẹp của dòng sông Hương như một nhân vật trữ tình, với những nét tính cách phức tạp, biến đổi một cách kì diệu trong không gian thời gian. Tất cả được phô diễn qua những lời văn giàu chất trí tuệ, kết hợp giữa tự sự và trữ tình tài hoa, mê đắm. Sông Hương hiện ra qua sự kết hợp nhiều góc nhìn khác nhau của Hoàng Phủ Ngọc Tường, từ địa lý, lịch sử, văn hoá, nghệ thuật… “hình như chỉ sông Hương là thuộc về một thành phố duy nhất. Trước khi về đến vùng châu thổ êm đềm, nó đã là một bản trường ca của rừng già, rầm rộ giữa những bóng cây đại ngàn mãnh liệt qua những ghềnh thác”. Nhưng rồi cũng có những lúc sông Hương “trở nên dịu dàng và say đắm giữa những dặm dài chói lọi màu đỏ của hoa đỗ quyên rừng”. Viết tuỳ bút, theo Nguyễn Tuân là “lối chơi độc tấu”, “mạch văn tràn chảy tuỳ theo cảm hứng”. Đặc trưng này xác đáng với những lời văn của Hoàng Phủ Ngọc Tường miêu tả về sông Hương. Nhà văn đã đưa người đọc đến những liên tưởng bất ngờ, khi ông so sánh “Sông Hương đã sống một nửa cuộc đời mình như một cô gái Di-gan phóng khoáng và man dại”. Ông cho rằng sông Hương là đứa con của rừng già với một tâm hồn tự do và trong sáng, để rồi rừng già đã chế ngự sức mạnh bản năng ở người con gái của mình để khi ra khỏi rừng, “sông Hương nhanh chóng mang một sắc đẹp dịu dàng và trí tuệ, trở thành người mẹ phù sa của một vùng văn hoá xứ sở”. Với đôi mắt khảo sát nghiêm túc của nhà địa lí có một tầm văn hoá sâu rộng, kết hợp vốn ngôn từ nghệ thuật phong phú mượt mà giàu chất thi họa, Hoàng Phủ Ngọc Tường tái hiện thủy trình của sông Hương từ vùng trung du trở xuống, nó liên tục chuyển dòng, “theo những đường cong thật mềm, như một cuộc tìm kiếm có ý thức để đi tới nơi gặp thành phố tương lai của nó”. Nhà văn đã đặt sông Hương vào giữa cảnh quan núi đồi, lăng tẩm, bãi biển vùng ngoại ô tây-nam thành phố Huế, gương mặt Hương Giang trong xanh phẳng lặng tạo nên những mảng phản quang nhiều màu sắc trên nền trời tây nam thành phố, “sớm xanh, trưa vàng, chiều tím”. Hoàng Phủ Ngọc Tường đã nhìn dòng sông Hương như một chủ thể có ý thức góp phần tôn vinh thêm vẻ đẹp của xứ Huế. Và trước khi về với Huế, sông Hương trôi lặng thầm giữa một vùng không gian “Bốn bề núi phủ mây phong. Mảnh trăng thiên cổ bóng tùng vạn niên”. Giữa đám quần sơn lô xô, ở phía tây thành Huế, nơi dành cho giấc ngủ ngàn năm của các bậc vua chúa thời Nguyễn, sông Hương hiện ra với vẻ đẹp trầm mặc như triết lí, như cổ thi kéo dài mãi “giữa những xóm làng trung du bát ngát tiếng gà”. Đến khi sông Hương đổ vào thành phố tương lai của nó, “nó đã kéo một nét thẳng thực yên tâm theo hướng tây nam-đông bắc…, nó đã thấy chiếc cầu trắng của thành phố in ngần trên nền trời, nhỏ nhắn như vành trăng non”. Nhà văn đã dành cho sông Hương một tình cảm trìu mến, thân thương. Có như vậy, ông mới liên tưởng trạng thái sông Hương uốn một cánh cung rất nhẹ sang cồn Hến như một tiếng “vâng” không nói ra của tình yêu. Đôi mắt sâu sắc của nhà văn đã nhìn ra mối quan hệ biện chứng giữa dòng sông Hương mềm mại với con người xứ Huế. Sông Hương dịu dàng, duyên dáng như đã góp phần hình thành nên tính cách nết na, ý nhị của người con gái cố đô. Với một trình độ văn hoá uyên bác, Hoàng Phủ Ngọc Tường đã so sánh vẻ đẹp của sông Hương với nhiều dòng sông nổi tiếng thế giới như sông Xen của Pari, sông Đa-nuýp của Bu-đa-pét, sông Nê-va của Nga,… Từ đó mà ông đã tôn vinh vẻ đẹp độc đáo của dòng sông Hương vào buổi đêm về, “vẫn lập lòe trong đêm sương, những ánh lửa thuyền chài của một linh hồn mô tê xưa cũ mà không một thành phố hiện đại nào còn nhìn thấy được”. Nhà văn quý điệu chảy lững lờ của sông Hương qua thành Huế. Ông cho rằng “Đây là điệu slow tình cảm dành riêng cho Huế, có thể cảm nhận được bằng thị giác qua trăm nghìn ánh hoa đăng bồng bềnh vào những đêm hội rằm tháng bảy… chao nhẹ trên mặt nước như những vấn vương của một nỗi lòng.” Có thể nói rằng Hoàng Phủ Ngọc Tường là một nhà văn hoá Huế, ông không chỉ nhìn sông Hương trôi ở trong thì hiện tại, ngày ngày mang phù sa và nguồn nước ngọt trao tặng vô tư cho những cánh đồng Châu Hoà, cho cuộc sống người dân xứ Huế; mà ông còn nhìn sông Hương như là khởi nguồn cho những giá trị tinh thần lịch sử. Sông Hương trong quá khứ qua các triều đại phong kiến vàng son, nó đã từng mang cái tên Linh giang, dòng sông viễn châu đã chiến đấu oanh liệt bảo vệ biên giới phía nam Tổ quốc nước Đại Việt. Nó đã từng vẻ vang soi bóng kinh thành Phú Xuân của anh hùng Nguyễn Huệ, rồi nó đi suốt qua hai cuộc kháng chiến chống Pháp và Mỹ góp phần làm nên những chiến công lẫy lừng vang dội cả thế giới như lời đại tướng Võ Nguyên Giáp đã phát biểu “Lịch sử Đảng đã ghi bằng nét son tên của thành phố Huế, thành phố tuy nhỏ nhưng đã cống hiến rất xứng đáng cho Tổ quốc”. Từ hiện thực kiêu hùng của Huế, mà Hoàng Phủ Ngọc Tường cho rằng “Sông Hương là dòng sông của thời gian ngân vang, của sử thi viết dưới màu cỏ lá xanh biếc”. Mặt khác, sông Hương cũng là cội nguồn của thi ca nghệ thuật. Có biết bao văn nhân, thi sĩ đã từng rung động với dòng sông Hương như Nguyễn Du, Cao Bá Quát, Tản Đà, Tố Hữu. Nhà văn đã tin rằng “có một dòng sông thi ca về sông Hương và tôi hy vọng đã nhận xét một cách công bằng về nó khi nói rằng dòng sông ấy không bao giờ lặp lại mình trong cảm hứng của các nghệ sĩ”. Cao Bá Quát đã từng nhìn sông Hương mà thốt lên rằng “Trường giang như kiếm lập thanh thiên”. Tản Đà thấy “dòng sông trắng, lá cây xanh”. Hàn Mặc Tử thì lại so sánh tôn vinh sông Hương như sông ngân hà “Thuyền ai đậu bến sông trăng đó/Có chở trăng về kịp tối nay”. Thu Bồn nhìn dòng nước lững lờ của sông Hương mà bâng khuâng “con sông dùng dằng con sông không chảy/Sông chảy vào lòng nên Huế rất sâu”. Và với Nguyễn Trọng Tạo, Hương Giang lãng đãng một bầu khí quyển huyền thoại thi ca giúp nhà thơ thăng hoa những vần mê đắm “Con sông đám cưới Huyền Trân Bỏ quên dải lụa phù vân trên nguồn Hèn chi thơm thảo nỗi buồn Niềm riêng nhuộm tím hoàng hôn đến giờ Con sông nửa thực nửa mơ Nửa mong Lí Bạch, nửa chờ Khuất Nguyên” Đất nước Việt Nam có rất nhiều dòng sông chảy qua mọi miền xứ sở, và nó đã kịp chảy vào trong những vần thơ, trang văn tuyệt vời. Bạn đọc từng xót xa với Hoàng Cầm khi nghe tin sông Đuống bị quân thù chiếm đóng. Nhà thơ đã thốt lên “Sông Đuống trôi đi/Một dòng lấp lánh/Nằm nghiêng nghiêng trong kháng chiến trường kì”. Công chúng yêu văn cũng đã chiêm ngưỡng vẻ đẹp hung bạo và trữ tình của “Đà Giang độc bắc lưu” qua những “trang hoa” xuất sắc của nhà tuỳ bút hàng đầu Nguyễn Tuân. Giờ chúng ta lại tìm đến với sông Hương-dòng sông chỉ tự thu mình khiêm tốn trong lãnh địa Thừa Thiên Huế, nhưng qua những trang kí tài hoa của Hoàng Phủ Ngọc Tường sông Hương hiện ra với những vẻ đẹp dịu dàng, tinh tế, góp phần làm cho Huế trở nên một bức tranh sơn thuỷ hữu tình. Hơn thế, sông Hương còn là dòng sông lịch sử, văn hoá, thơ ca, nghệ thuật. Nó đã là một phần trong đời sống tâm linh của người Huế trầm mặc, sâu sắc. Câu hỏi “Ai đã đặt tên cho dòng sông?” của Hoàng Phủ Ngọc Tường đã gợi lên trong miền tình cảm của bạn đọc nhiều băn khoăn về một dòng sông ngỡ là quá quen, hoá ra lại có nhiều bí ẩn cần được khám phá thêm. Có như vậy, chúng ta mới hiểu sâu sắc hơn về quê hương đất nước, tự hào hơn về giang sơn cẩm tú Việt Nam. Nguồn Edufly Chủ đề Cảm nhậncon ngườicuộc sốngđất nướchiện đạihoang phu ngoc tuongnguoi menguyen duphan tich ve dep song huongthời giantố hữuve dep cua song huong
Phân tích vẻ đẹp sông Hương khiến ta không khỏi trầm trồ trước di sản của đất nước, thêm yêu thêm quý cảnh đẹp non sông gấm vóc Việt Nam, bên cạnh đó còn thật sự ngưỡng mộ trước tài năng của Hoàng Phủ Ngọc văn học Việt Nam hiện đại, Hoàng Phủ Ngọc Tường là cái tên nổi trội với thể loại bút ký, từng trang văn ông viết ra đều thể hiện vốn kiến thức uyên bác và sự tài hoa hơn người. Tiêu biểu cho phong cách của Hoàng Phủ Ngọc Tường là tập bút kí Ai đã đặt tên cho dòng sông, xuất bản năm 1984, gồm có tám bài viết về nhiều đề tài khác nhau. Trong tập bút ký này của ông có thể nói rằng bài bút ký cùng tên Ai đã đặt tên cho dòng sông là nổi trội, độc đáo hơn cả. Tác phẩm viết về sông Hương bằng cảm nhận từ nhiều góc nhìn của nhà văn, đặc biệt là góc nhìn tâm linh vô cùng huyền bí. Cùng phân tích vẻ đẹp sông Hương ta sẽ hiểu được vì sao nó là nguồn cảm hứng bất tận cho thơ ca bao đời nay. Vẻ đẹp đầy dịu dàng, yên bình của sông Hương Đọc bài bút ký này của Hoàng Phủ Ngọc Tường, độc giả như đang tìm hiểu một cuốn bách khoa toàn thư bởi nó chứa đựng sự hiểu biết sâu rộng về mọi lĩnh vực văn hóa, lịch sử, địa lý, văn học nghệ thuật,…tuy nhiên mục đích cuối cùng là để hiểu rõ về sông Hương, thiên nhiên và con người xứ Huế. Luận điểm 1 Vẻ đẹp của sông Hương từ góc nhìn địa lý Bằng óc quan sát có độ bao quát cao và kỹ lưỡng, nhà văn đã tái hiện hình ảnh sông Hương một cách thật chân thực trước mắt người đọc. Tùy vào từng “đoạn chảy” sông Hương mang vẻ đẹp khác nhau, ở thượng nguồn dải lụa trong trẻo này hiện lên với vẻ hùng vĩ “như một bản trường ca của rừng già, rầm rộ giữa bóng cây đại ngàn, lúc mãnh liệt vượt qua nhiều ghềnh thác, khi cuộn xoáy như cơn lốc vào những đáy vực sâu, lúc dịu dàng say đắm giữa những dặm dài chói lọi màu hoa đỗ quyên rừng.” Có lẽ vì hứng chịu nhiều biến đổi của thời tiết mà sông Hương ở thượng nguồn có khi mãnh liệt, có khi lại dịu êm. Ra khỏi đại ngàn, nó lại mang một dáng vẻ khác mà ít ai biết đến, bắt đầu chuyển dòng và giấu cuộc hành trình của mình vào lòng Trường Sơn. Với biện pháp nhân hóa được tác giả sử dụng, sông Hương trở thành một con người thật sự, biết nên uốn mình hay bung xõa tùy vào địa hình. Khi chảy qua vùng rừng núi, nó trở nên dịu dàng, khéo léo đưa mình theo những đường cong thật mềm dù hai bên là sỏi đá. Theo dòng chảy của sông Hương, khung cảnh xứ Huế cũng dần hiện lên “chùa Thiên Mụ”, “những xóm làng trung du bát ngát tiếng gà”. Đến giữa lòng Cố đô Huế, nó hoàn toàn rũ bỏ vẻ hoang dại của mình lúc ở thượng nguồn, thay vào đó là sự dịu dàng, tĩnh lặng. Giữa khung cảnh yên bình này, có lẽ sông Hương muốn hóa thành “nàng thơ” để tô thêm sắc thắm cho Huế, làm nền tảng cho những trang viết không kém phần mộng mơ của Hoàng Phủ Ngọc Tường. Ý văn bất ngờ nhất ở đây có lẽ là trước khi rời khỏi kinh thành Huế, sông Hương “đột ngột rẽ dòng…để gặp lại thành cuối.” Đọc đến đây ta tự hỏi sao tác giả có thể viết nên những câu chữ thật “tình” và đầy đẹp đẽ đến thế, không chỉ thổi hồn vào dòng sông của quê hương đất nước, nhà văn còn kết nối được vật thể địa lý này với văn hóa, con người nơi đây. Sông Hương như một tấm gương khổng lồ phản chiếu vẻ đẹp biến ảo của Huế “sớm xanh, trưa vàng, chiều tím” và điệu chảy của nó cho thấy tính cách con người Huế mềm mại, chí tình “mãi mãi chung tình với quê hương xứ sở”, “sắc áo cưới màu điều – lục các cô dâu trẻ vẫn mặc sau tiết sương Giáng” cũng chính là sự kết tinh hài hòa giữa sắc trời Huế và màu sương khói mờ ảo trên sông Hương. Phân tích vẻ đẹp sông Hương- Sông Hương khi ở vùng thượng nguồn Luận điểm 2 Vẻ đẹp của sông Hương từ góc nhìn lịch sử Bởi sự trường tồn mà tạo hóa ban cho, sông Hương đã trở thành một chứng nhân lịch sử của đất nước dân tộc. Dưới mắt nhìn của Hoàng Phủ Ngọc Tường, nó là “dòng sông biên thùy xa xôi của đất nước các vua Hùng”, ở thế kỉ mười tám nó “soi bóng kinh thành Phú Xuân của người anh hùng Nguyễn Huệ”, một trăm năm sau hăng hái gắn mình với “những cuộc khởi nghĩa bi tráng” của nhân dân, khắc sâu bao nhiêu xương máu đã đổ xuống trên dải đất hiền, không chỉ “chứng kiến những chiến công rung chuyển của thời đại cách mạng tháng Tám” mà còn “cổ vũ nồng nhiệt cho chiến công năm Mậu Thân.” Cùng chung nỗi đau của đất nước, sông Hương cũng từng oằn mình dưới sự tàn phá của bom đạn để giờ đây tự hào là một dòng sông di sản. Ở đoạn ngược về quá khứ để khẳng định vai trò của sông Hương trong nền lịch sử dân tộc này, ta thấy chất trữ tình đầu bài được giảm đi, nét dịu dàng mộng mơ nhường chỗ chất phóng sự với những sự kiện vô cùng cụ thể. Thế nhưng ở góc nhìn lịch sử này, sông Hương không hiện lên quá khô khan mà theo tác giả nó vừa là một bản hùng ca đầy khí thế, tự hào vừa là một bản tình ca “Còn non, còn nước, còn dài – Còn về, còn nhớ,…”, sông Hương như “sử thi viết giữa màu cỏ lá xanh biếc”. Vì có cái tên mềm mại, dịu dàng mà ít ai biết rằng sông Hương đã anh dũng, kiên cường như thế trong suốt lịch sử thăng trầm của dân tộc cho đến khi đọc được những dòng văn này của Hoàng Phủ Ngọc Tường, những dòng văn ánh lên niềm tự hào và yêu quê hương đất nước tha thiết. Phân tích vẻ đẹp sông Hương- Vẻ đẹp của sông Hương và con người xứ Huế Luận điểm 3 Vẻ đẹp của sông Hương từ góc nhìn văn hóa Để sông Hương hiện lên thật đầy đủ và trọn vẹn trước mắt người đọc, nhà văn chẳng để nó khuyết thiếu ở một phương diện nào mà thực tế nó sở hữu. Trong cảm nhận tinh tế của tác giả, bên cạnh là dòng sông địa lí, dòng sông lịch sử thì sông Hương còn là cái nôi của âm nhạc. Từ những hoạt động nhỏ bé trên sông nước như tiếng mái chèo rẽ nước, tiếng từng con nước nhỏ vỗ vào mạn thuyền mỗi đêm đã hình thành nên bao điệu hò dân gian chứa tình yêu quê hương xứ sở đầy mộc mạc giản dị, góp phần cho sự xuất hiện và phát triển nền âm nhạc cổ điển Huế. Chưa dừng lại ở đây, nhà văn tiếp tục khiến người đọc thêm lần nữa những cái gật đầu tán đồng khi chỉ ra sông Hương còn là một dòng sông thi ca. Từ bao đời nay, đã có không ít nhà thơ viết về sông Hương nhưng thật đặc biệt khi chẳng ai trùng lặp nhau trong ý tứ, câu từ. Mỗi nhà thơ đều có cho mình một góc nhìn riêng, tìm được nguồn cảm hứng riêng từ dòng sông đặc biệt. Ông nhắc đến những dòng thơ hài hòa của Tản Đà về xứ Huế “Dòng sông trắng – lá cây xanh”, làm sống dậy vẻ hùng tráng khí phách nơi sông Hương thông qua những con chữ “như kiếm dựng trời xanh” của Cao Bá Quát rồi để người đọc chìm vào niềm bảng lảng, mênh mang trong “nỗi quan hoài vạn cổ” của Bà Huyện Thanh Quan. Bằng vốn kiến thức vững vàng và phong phú, Hoàng Phủ Ngọc Tường vừa thể hiện được sự trân trọng, yêu quý những áng thơ văn của các tác giả Việt Nam, vừa tái hiện được vẻ đẹp của sông Hương một cách nhẹ nhàng đầy tinh tế. Tác giả Hoàng Phủ Ngọc Tường Phân tích vẻ đẹp sông Hương khiến ta không khỏi trầm trồ trước di sản của đất nước, thêm yêu thêm quý cảnh đẹp non sông gấm vóc Việt Nam, bên cạnh đó còn thật sự ngưỡng mộ trước tài năng của Hoàng Phủ Ngọc Tường. Không chỉ tạo nên một trong những tác phẩm hay nhất viết về sông Hương, tác giả còn đóng góp một tập bút ký đặc sắc bậc nhất vào nền Văn học Việt Nam hiện đại. “Phải yêu quê hương dân tộc nhiều bao nhiêu thì Hoàng Phủ Ngọc Tường mới có thể viết nên những trang văn thật tỉ mỉ, trau chuốt và đẹp đẽ như vậy” đó là suy nghĩ mà có lẽ ai đọc xong tác phẩm này cũng tự thầm hỏi.
hoàng phủ ngọc tường sông hương